Chỉ định
Thuốc Paracetamol Kabi 1000 được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
- Điều trị ngắn hạn đau vừa, đặc biệt là đau sau phẫu thuật.
- Điều trị ngắn hạn tình trạng sốt.
- Đường tĩnh mạch được sử dụng khi trên lâm sàng cần giảm đau ngay hoặc hạ sốt khẩn cấp hoặc không thể dùng được các đường dùng khác.
Dược lực học
Paracetamol (acetaminophen hay N-acetyl-p-aminophenol) là chất chuyển hóa có hoạt tính của phenacetin, là thuốc giảm đau – hạ sốt hữu hiệu có thể thay thế aspirin, tuy vậy khác với aspirin, paracetamol không có hiệu quả điều trị viêm. Với liều ngang nhau tính theo gam, paracetamol có tác dụng giảm đau và hạ sốt tương tự như aspirin.
Paracetamol làm giảm thân nhiệt ở người bệnh sốt, nhưng hiếm khi làm giảm thân nhiệt ở người bình thường. Thuốc tác động lên vùng dưới đồi gây hạ nhiệt, tỏa nhiệt tăng do giãn mạch và tăng lưu lượng máu ngoại biên.
Với liều điều trị, paracetamol ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp, không làm thay đổi cân bằng acid-base, không gây kích ứng, loét hoặc chảy máu dạ dày như khi dùng salicylate. Tác dụng của paracetamol trên hoạt tính cyclooxygenase chưa được biết đầy đủ. Với liều 1g/ngày paracetamol là một thuốc ức chế cyclooxygenase yếu.
Tác dụng ức chế của paracetamol trên cyclooxygenase – 1 yếu. Paracetamol thường được chọn làm thuốc giảm đau và hạ sốt, đặc biệt ở người cao tuổi và ở người có chống chỉ định dùng salicylat hoặc NSAID khác, như người bị hen, có tiền sử loét dạ dày tá tràng và trẻ em.
Paracetamol không có tác dụng trên sự kết tập tiểu cầu hoặc thời gian chảy máu.
Với liều điều trị, paracetamol chuyển hóa chủ yếu qua phản ứng liên hợp sulfat và glucuronid. Một lượng nhỏ thường chuyển thành một chất chuyển hóa độc, N-acetyl-p-benzoquinonimin (NAPQI). NAPQI được khử độc bằng glutathion và đào thải vào nước tiểu hoặc mật.
Khi chất chuyển hóa không được liên hợp với glutathion sẽ gây độc cho các tế bào gan và gây hoại tử tế bào. Paracetamol thường an toàn khi dùng với liều điều trị, vì lượng NAPQI được tạo thành tương đối ít và glutathion tạo thành trong tế bào gan đủ liên hợp với NAPQI. Tuy nhiên, khi quá liều hoặc đôi khi với liều thường dùng ở một số người nhạy cảm (như suy dinh dưỡng, hoặc tương tác thuốc, nghiện rượu, cơ địa di truyền), nồng độ NAPOI có thể tích lũy gây độc cho gan.
Paracetamol Kabi 1000 cho tác dụng giảm đau bắt đầu 5 – 10 phút sau khi sử dụng. Hiệu quả giảm đau tối đa đạt được trong khoảng 1 giờ và thường giữ hiệu quả giảm đau từ 4 đến 6 giờ.
Paracetamol Kabi 1000 làm hạ sốt trong vòng 30 phút sau khi sử dụng. Tác dụng hạ sốt được giữ trong ít nhất 6 giờ.
Dược động học
Người lớn
Hấp thu
Dược động học của paracetamol sau khi dùng 1 liều đơn và nhắc lại trong vòng 24 giờ là tuyến tính cho tới 2g.
Sinh khả dụng của paracetamol sau khi truyền 500mg và 1g cũng giống như khi truyền 1g và 2g propacetamol (tương ứng với 500mg và 1g paracetamol).
Nông độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) đạt được ở thời điểm cuối đợt truyền 15 phút khi truyền 500mg và 1g paracetamol tương ứng là khoảng 15µg/ml và 30µg/ml.
Phân bố
Thể tích phân bố của paracetamol vào khoảng 1l/kg. Paracetamol không gắn nhiều với protein huyết tương (khoảng 10%) 20 phút sau khi truyền 1g paracetamol, nồng độ đáng kể paracetamol (khoảng 1,5µg/ml) được phát hiện trong dịch não tủy.
Sinh chuyển hóa
Paracetamol chủ yếu được chuyển hóa ở gan theo 2 đường chính: Liên hợp với acid glucuronic và acid sulfuric. Ở liều cao hơn liều điều trị, con đường thứ 2 nhanh chóng bị bão hòa. Một lượng nhỏ (dưới 4%) được chuyển hóa bởi cytocrom P450 thành 1 chất trung gian (N—acetyl benzoquinon imin). Chất trung gian này, ở liều bình thường, sẽ nhanh chóng bị khử độc bằng glutathion và thải trừ qua đường niệu sau khi liên hợp với cystein và acid mercapturic. Tuy nhiên, trong trường hợp quá liều quá nhiều, lượng chất chuyển hóa độc hại này tăng lên.
Thải trừ
Các chất chuyển hóa của paracetamol chủ yếu được thải trừ qua nước tiểu. 90% liều sử dụng được bài tiết ra trong vòng 24 giờ, chủ yếu dưới dạng liên hợp glucuronid (60 – 80%) và sulfat (20 – 30%). Dưới 5% được thải trừ ở dạng không đổi. Thời gian bán thải ở huyết tương là 2,7 giờ và hệ số thanh thải toàn thân là 18l/giờ.
Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và trẻ em
Các thông số dược động học của paracetamol ở trẻ em và trẻ nhỏ cũng giống như ở người lớn, ngoại trừ thời gian bán thải trong huyết tương ngắn hơn một chút (1,5 đến 2 giờ) so với ở người lớn. Ở trẻ sơ sinh, thời gian bán thải huyết tương dài hơn ở trẻ nhỏ tức là khoảng 3,5 giờ. Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và trẻ dưới 10 tuổi bài tiết dạng liên hợp glucuronid ít hơn và dạng sulfat nhiều hơn so với ở người lớn.
Bảng: Các giá trị dược động học liên quan đến tuổi (độ thanh thải tiêu chuẩn, *CL/Fuống(I/giờ/70kg).
Bệnh nhân đặc biệt
Suy thận
Trường hợp suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 10 – 30ml/phút), thải trừ paracetamol giảm nhẹ, thời gian bán thải trong khoảng 2 đến 5,3 giờ. Với các chất liên hợp glucuronid và sulfat, tốc độ thải trừ ở người suy thận nặng thấp hơn 3 lần so với ở người khỏe mạnh. Vì vậy, khi dùng paracetamol cho người suy thận nặng (độ thanh thải creatinin <30ml/phút), khoảng cách ít nhất giữa các lần dùng cần tăng lên tới 6 giờ.
Người cao tuổi
Các thông số chuyển hóa và dược động học của paracetamol không thay đổi ở người cao tuổi. Không cần điều chỉnh liều với các bệnh nhân này.
