Nhận diện vấn đề đô thị và quản lý phát triển đô thị khi đất nước dần trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại – Media story – Tạp chí Cộng sản

Hiện tại ở nước ta, khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với đô thị về mặt đất đai (khoảng 90% diện tích đất cả nước); trong khoảng 10% diện tích đất thuộc ranh giới hành chính đô thị, khu vực nội thị chỉ chiếm khoảng 4,4%, dân số chiếm trên 60%(1). Tuy nhiên, các đô thị vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang hướng tới mục tiêu sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; khu vực đô thị đã đóng góp hơn 70% GDP cho cả nước(2).

Những quan niệm về đô thị đa dạng trên thế giới

Ở Việt Nam, khái niệm đô thị được xác định tại từng khoảng thời gian nhất định. Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009(3): “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”. Trong đô thị có nhiều khu chức năng; các chức năng thường được tổ hợp và bố cục tạo thành ba khối chính phục vụ cho nhu cầu của con người là khối làm việc (nhà máy, xí nghiệp, công sở…), khối sinh hoạt (nhà ở) và khối nghỉ ngơi, giải trí (công trình dịch vụ công cộng, vườn hoa, công viên…).

Các đô thị Việt Nam hiện nay cơ bản được xây dựng trên cơ sở mô hình đô thị theo đơn vị với hệ thống tầng bậc, được phân chia từ thành phố đến quận, phường, tổ dân phố. Trong mỗi một cấp độ có các trung tâm phục vụ công cộng, như trung tâm thành phố, trung tâm quận, trung tâm phường, trung tâm nhóm nhà ở. Trên thế giới, định nghĩa về đô thị được xác định khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Theo một khảo sát tại 114 nước trên thế giới vào năm 1996, có 26 nước căn cứ vào dân số, 20 nước căn cứ vào dân số và các tiêu chí khác, 54 nước căn cứ vào tính pháp lý, chính quyền hành chính và 14 nước không xác định điểm đô thị(4). Tại các nước chỉ căn cứ vào dân số để xác định đô thị thường tùy thuộc vào dân số của cả nước. Đô thị ở Thụy Sĩ, Ma-lai-xi-a phải có trên 10.000 người, trong khi ở An-ba-ni và Ai-xơ-len chỉ cần có trên 400 người và 200 người. Đối với các nước căn cứ vào dân số và các tiêu chí khác để xác định đô thị, các tiêu chí bổ sung thường là mật độ dân số hoặc tỷ lệ người làm việc phi nông nghiệp. Đối với các nước căn cứ vào tính pháp lý hoặc chính quyền hành chính để xác định đô thị, đó là nơi có văn phòng chính quyền, hội đồng thành phố hoặc khu vực quân sự, là thủ đô hay các trung tâm khu vực.

Để thuận lợi cho công tác quy hoạch và quản lý phát triển, hệ thống đô thị Việt Nam hiện nay được phân thành 6 loại với 5 tiêu chí theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH, ngày 25-5-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội(5). Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH đã làm rõ các tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại đô thị về cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội cũng như trình độ phát triển kết cấu hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan. Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng nêu ra những khả năng có thay đổi trong áp dụng các tiêu chuẩn đó đối với một số đô thị có tính chất đặc thù như đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo; đô thị ở miền núi, vùng cao, hải đảo.