BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Hiện nay, ngành Giáo dục đang triển khai thực hiện về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; vai trò của người giáo viên vô cùng quan trọng, có tính quyết định. Do đó, đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm vững kiến thức và phương pháp dạy học hiện đại mà phải biết vận dụng các phương pháp thích hợp để tổ chức dạy học cho từng nội dung kiến thức cụ thể. Có như vậy với kích thích được sự say mê, hứng thú học tập, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.
Thực tế, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Việc tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và các môn học ơ lớp 5 nói riêng là vấn đề quan trọng nhằm hình thành cho học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo; qua đó nâng cao chất lượng dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực tự học thể hiện qua 4 đặc trưng cơ bản:
Một là giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo, học sinh tự khám phá, tìm tòi và lĩnh hội kiến thức.
Hai là giáo viên định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,…học sinh khai thác các tài liệu học tập, tìm lại kiến thức đã có để phát triển tiềm năng sáng tạo.
Ba là tổ chức phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp của Giáo viên – Học sinh và Học sinh – Học sinh. Học sinh lĩnh hội kiến thức từ các hoạt động giáo viên đã tổ chức và cũng có thể lĩnh hội kiến thức từ hoạt động học của bạn mình.
Bốn là đánh giá kết quả theo mục tiêu bài thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập; chú trọng phát triển kĩ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Từ đó học sinh hình thành và phát huy những năng lực, phẩm chất cơ bản. Xuất phát từ những đặc trưng cơ bản đó, tôi nhận thấy một trong những phương pháp có ưu điểm đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học ở Tiểu học hiện nay đó là “ Sơ đồ tư duy”.
Sơ đồ tư duy giúp giáo viên đổi mới công tác quản lí, đổi mới phương pháp dạy học đạt hiệu quả. Từ đó, người giáo viên có thể tự tin hơn trong quá trình giảng dạy làm cho tiết học trở lên nhẹ nhàng, sôi động, hiệu quả và đặc biệt là không đơn điệu, nhàm chán. Còn về phía học sinh, khi sử dụng sơ đồ tư duy các em sẽ biết cách học và tự học một cách có chủ đích. Các em không học vẹt một cách máy móc mà ngược lại sẽ nhớ nhanh, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức trọng tâm cơ bản, biết liên tưởng, liên kết thành một hệ thống các kiến thức có liên quan với nhau. Đặc biệt, các em có thể thuộc bài ngay tại lớp, tập trung được sức mạnh tập thể, tự tin và sáng tạo hơn. “Sơ đồ tư duy” là công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng, tóm tắt, hệ thống hóa các kiến thức của một bài, một chủ đề một cách rõ ràng, mạch lạc, lôgic.
Đặc biệt là lớp 5 – giai đoạn mà nhu cầu nhận thức và khám phá của các em rất phong phú trong tất cả các lĩnh vực và các môn học. Các phân môn đã bắt đầu hình thành khái niệm quy tắc ngữ pháp, tư duy lôgic. Ví dụ như phân môn Lịch sử &Địa lí ngoài việc hình thành cho học sinh một số kĩ năng cơ bản còn bắt đầu cung cấp cho học sinh một số kiến thức như nhân vật, sự kiện lịch sử; mối quan hệ giữa các vùng miền, giữa thiên nhiên và con người. Các môn học khác như Toán, Khoa học, Tiếng Việt, Tiếng Anh, Mĩ thuật, Tin học,…cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy. Lượng kiến thức ấy không phải là ít và dễ dàng tiếp nhận, ghi nhớ. Hơn nữa, học sinh tiểu học còn thích được vẽ, thích tưởng tượng, vừa học vừa chơi. Chính vì vậy, ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học cho học sinh lớp 5 góp phần giúp các em biết cách tiếp nhận thông tin, ghi chú, ôn luyện hiệu quả mà vẫn không cảm thấy quá tải, vẫn hứng thú với các môn học.
Ưu điểm lớn nhất của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học là dễ áp dụng, dễ thực hành, phát huy khả năng sáng tạo và năng lực tự học của học sinh. Tôi chỉ cần bảng và hộp phấn nhiều màu, học sinh chỉ cần tờ giấy trắng và hộp bút nhiều màu. Bất kể môn học nào tôi cũng có thể ứng dụng sơ đồ tư duy và yêu cầu học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi xin chia sẻ: “Một số giải pháp sử dụng sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 5” tại trường Tiểu học Hải Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến :
Thực trạng khi dạy và học các môn học cho học sinh tiểu học cũng như học sinh lớp 5 nói chung và học sinh lớp 5B nói riêng của trường Tiểu học Hải Long tôi nhận thấy:
* Đối với giáo viên:
Qua quá trình thăm lớp, dự giờ khảo sát trước tác động, tôi nhận thấy thực trạng việc áp dụng “Sơ đồ tư duy” trong dạy học của giáo viên trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn. Các phương pháp truyền thống như: dùng trực quan, giảng giải, vấn đáp,… vẫn chiếm ưu thế. Thực tế hiệu quả của việc giảng dạy kiến thức các môn học cho học sinh vẫn chưa cao. Khi dạy cho học sinh, giáo viên vẫn là người hoạt động chủ yếu, học sinh vẫn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và năng lực tự học. Vì thế, mỗi tiết học trở nên khô khan, nặng nề.
Giáo viên đã nhận thức tầm quan trọng của nội dung kiến thức cần nắm vững song việc sử dụng các biện pháp dạy chưa phù hợp, chưa thu hút được sự tập trung của học sinh nên hiệu quả mang lại chưa cao.
Trong việc đánh giá học sinh, giáo viên cũng đã chủ động nắm bắt được nội dung và phương pháp dạy học mới. Trong các hoạt động học tập của học sinh ở các tiết dạy học trên lớp, giáo viên đã chú ý lấy học sinh làm trung tâm, tích cực. Tuy nhiên, khi thiết kế bài dạy cũng như khi giảng dạy trên lớp nhiều khi giáo viên chưa chủ động thiết kế và dạy theo đối tượng học sinh của mình mà phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướng dẫn. Hoặc nếu có chú ý thì giáo viên cũng mới chỉ tập trung vào việc hình thành kiến thức mới cho học sinh mà vô tình chưa quan tâm đến việc thường xuyên nhận xét, đánh giá, khích lệ học sinh để dễ dàng khai thác và phát triển các bài tập nhằm bồi dưỡng, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học cho học sinh.
Nhiều khi giáo viên chưa thực sự nghiên cứu, tìm tòi, khai thác và vận dụng để có sự cải tiến, sáng tạo trong cách dạy, hướng dẫn bài tập một cách thụ động nên các em học sinh có khả năng vượt trội sẽ khó thể hiện được năng lực tư duy. Sáng tạo của mình.
Giáo viên nắm chưa vững phương pháp mới do thời gian tập huấn ở cơ sở cũng như tự nghiên cứu tài liệu còn hạn chế. Chính vì vậy mà không ít giáo viên “ngại” áp dụng hoặc áp dụng nhưng không thường xuyên và hiệu quả không cao
Trong quá trình tìm hiểu, dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm của đồng nghiệp cũng như nghiên cứu nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học các môn học cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Hải Long tôi thấy những điều nói trên là sát thực.
* Đối với học sinh:
Đối với trường Tiểu học Hải Long nói chung và lớp 5B của tôi nói riêng số học sinh tích cực, tự giác chưa cao. Học sinh học tập còn thụ động, tư duy đi vào lối mòn, không kích thích được sự phát triển trí não. Điều đó làm cho một số học sinh tuy rất chăm học nhưng sự tiếp thu vẫn rất ít vì không biết liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng những kiến thức đã học trước đó vào phần sau. Phần lớn số học sinh này khi đọc sách hay nghe giảng trên lớp chưa biết cách ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Mặc dù chương trình mới chú trọng tới việc “cá thể hóa hoạt động học tập của học sinh” để bản thân mỗi học sinh sẽ nỗ lực suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, tự tìm ra cách giải quyết vấn đề. Song lứa tuổi các em còn bé nên sự tư duy, sáng tạo còn hạn chế.
Sử dụng thành thạo sơ đồ tư duy trong dạy học khi đó học sinh sẽ học được phương pháp học, nhớ lâu kiến thức, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Rất nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Tuy nhiên, việc lựa chọn sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và các môn học ở lớp 5 nói riêng còn hạn chế. Thời gian giảng dạy cho một tiết dạy thường kéo dài hơn do học sinh chưa quen với phương pháp mới..
Với đặc điểm về nhận thức của từng nhóm đối tượng học sinh, có những em chưa mạnh dạn, năng động, tích cực trong giờ học. Nhiều em còn thụ động trong quá trình tiếp thu bài, các em còn thiếu kĩ năng phân tích, tổng hợp. Các em chưa có thói quen hệ thống lại những gì mà các em học được. Khi tôi đưa ra câu hỏi: “Em có thể nhớ được đủ các cặp quan hệ từ này được bao lâu? ” Học sinh đã trả lời: “Vì em chưa học thuộc nên em không nhớ được đủ hết ạ!” Các em thường không nhớ lâu, hiểu sai bài học. Khi đó, nếu thoát li khỏi quyển sách giáo khoa, các em sẽ rất lúng túng khi nhắc lại nội dung kiến thức bài học hay ôn lại nội dung kiến thức chủ đề. Trong khi đó, đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên là hướng tới mục tiêu lôi cuốn sự tham gia, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực tự học của tất cả các học sinh. Việc sử dụng sơ đồ tư duy đã giải quyết được vấn đề này, giáo viên giúp học sinh có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hóa; hình thành kĩ năng hiểu – biết – tiếp thu – nhận dạng kiến thức có hệ thống.
Năm học 2022 – 2023, qua việc khảo sát 35 học sinh lớp 5B về kĩ năng hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy, tôi thu được kết quả như sau:
* Về Từ loại phân môn Luyện từ và câu – môn Tiếng Việt
Mức độ đạt được
Số lượng
Tỉ lệ
35
100%
Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy đầy đủ, khoa học
3
8,57
Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy đơn giản nhưng chưa đầy đủ, chưa khoa học
18
51,43
Học sinh chưa vẽ được sơ đồ tư duy
14
40
* Về Thực hành: Nói “Không!” đối với các chất gây nghiện – môn Khoa học
Mức độ đạt được
Số lượng
Tỉ lệ
35
100%
Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy đầy đủ, khoa học
3
8,57
Học sinh vẽ được sơ đồ tư duy đơn giản nhưng chưa đầy đủ, chưa khoa học
20
57,14
Học sinh chưa vẽ được sơ đồ tư duy
12
34,29
Số liệu điều tra được ở bảng trên cho thấy học sinh có năng lực vượt trội, có khả năng học tốt sẽ vẽ được sơ đồ tư duy đầy đủ, khoa học ở lớp 5B còn ít. Hầu hết học sinh mới chỉ vẽ được sơ đồ tư duy đơn giản, chưa có hệ thống, chưa tương đồng về mạch kiến thức; vẽ được sơ đồ tư duy nhưng chưa đầy đủ, chưa khoa học vẫn còn chiếm tỉ lệ cao (trên 50%). Bên cạnh đó, số học sinh chưa vẽ được sơ đồ tư duy cũng còn chiếm khác nhiều (khoảng từ 30% đến 40%). Học sinh mới liệt kê được một số kiến thức; liệt kê lộn xộn, không đầy đủ, không lôgic,… Từ việc xâu chuỗi để nắm bắt kiến thức của học sinh còn hạn chế kéo theo chất lượng đầu năm học của lớp 5B cũng chưa được khả quan.
Cùng với đó, qua thực tế của việc giảng dạy ở trường, quan sát các đối tượng học sinh, tôi thấy kĩ năng ghi chép, chắt lọc kiến thức trọng tâm của học sinh còn hạn chế. Cứ đến tiết thứ 4 của buổi học, không khí của lớp học trầm hẳn xuống, dáng vẻ uể oải, mất tập trung bộc lộ rõ trên khuôn mặt của nhiều học sinh dẫn đến hiệu quả tiết dạy chưa cao, chưa đạt được kết quả mong muốn của giáo viên.
Từ những cơ sở nêu trên, tôi thấy việc nghiên cứu áp dụng “Sơ đồ tư duy” vào dạy học là vấn đề hết sức cần thiết. Có như vậy mới hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, giúp học sinh thực sự trở thành “chủ thể” tìm kiếm tri thức.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
2.1. Cơ sở lý luận:
Sơ đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. (phụ lục 1)
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí; có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau. Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì.
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật minh họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não. Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ…” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Màu sắc mang đến cho sơ đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”.
Giai đoạn cuối bậc Tiểu học – ở lớp 5, trẻ đã biết phân tích, khái quát, so sánh,…từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong dựa vào các hành dộng với đối tượng thực. Các em có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng. Trên cơ sở đó, sơ đồ tư duy giúp học sinh phát hiện vấn đề một cách dễ dàng và ghi nhớ một cách có hệ thống. Mỗi nhánh nhỏ sẽ tác động đến “nấc thang” nhận thức gần nhất của các em.
2.2. Mục đích của giải pháp:
– Tạo cho học sinh sự say mê, hứng thú trong các môn học.
– Giúp học sinh ghi nhớ nhanh, nhớ một cách có logic. Các kiến thức trước được ghi nhớ và hỗ trợ các mảng kiến thức sau. Các em biết học những vấn đề trọng tâm, biết liên kết các vấn đề, xâu chuỗi thành một hệ thống kiến thức có liên quan đến nhau.
– Giúp giáo viên khắc phục và giải quyết những khó khăn trong công tác giảng dạy, áp dụng những phương pháp tiên tiến hiện đại nâng cao nghiệp vụ sư phạm của bản thân, là cơ sở để trao đổi kinh nghiệm hữu ích với đồng nghiệp.
– Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thảo luận nhóm, khăn trải bàn, động não,…có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp 5.
2.3. Đối tượng nghiên cứu của giải pháp:
– Sơ đồ tư duy trong dạy học các môn học lớp 5
– Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hải Long
2.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện giải pháp, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp nghiên cứu tài liệu
– Phương pháp phân tích tổng hợp
– Phương pháp nêu vấn đề
– Phương pháp thực hành vận dụng
– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
– Phương pháp thốn kê, đối chứng số liệu
2.5. Nội dung công việc cần giải quyết:
Để nâng cao hiệu quả dạy học các môn học theo Sơ đồ tư duy, giáo viên cần làm tốt các việc sau:
Đầu tiên là cho học sinh làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy.
Sau đó là hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy.
Tiếp theo là lựa chọn những bài học, hoạt động trong bài có thể áp dụng Sơ đồ tư duy.
Cuối cùng là hướng dẫn học sinh học tập độc lập, sử dụng sơ đồ tư duy để hỗ trợ học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo; phát triển năng lực tự học và phát triển tư duy lôgic cho học sinh.
2.6. Giải pháp thực hiện:
Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các môn học cho học sinh lớp 5 tôi đã nghiên cứu kĩ tài liệu được tập huấn, đọc thêm các tài liệu, truy cập mạng Internet để nắm vững cách soạn giảng và cách hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy, mạnh dạn áp dụng vào việc xây dựng kế hoạch dạy học và giảng dạy thực tế. Giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát huy năng lực tự học, tư duy lôgic; dễ nhớ và nhớ lâu bài; kích thích hứng thú học tập của các em học sinh lớp 5, tôi đã tiến hành các giải pháp sau:
2.6.1. Cho học sinh làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy.
Cho học sinh làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho học sinh một số sơ đồ tư duy. Tùy vào mức độ của từng học sinh, lớp học mà giáo viên có thể vừa chỉ vào sơ đồ vừa dẫn dắt học sinh như: Từ một vấn đề hay một chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai, thứ ba,…mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý nhỏ hơn. Các nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong.
– Muốn hình thành một sơ đồ tư duy đạt hiệu quả, giáo viên cần tiến hành theo các yêu cầu sau:
+ Bước 1: Giới thiệu cho học sinh các yêu cầu chung về cách “ghi chép” có hiệu quả trên sơ đồ tư duy gồm các nội dung sau:
1 là dùng từ khóa và ý chính
2 là viết cụm từ, không viết thành câu
3 là dùng các từ có thể viết tắt
4 là có tiêu đề
5 là đánh số các ý
6 là liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7 là ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8 là sử dụng màu sắc để ghi chép
+ Bước 2: Cho học sinh làm quen với sơ đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho học sinh một số sơ đồ tư duy cùng với sự dẫn dắt của giáo viên để các em làm quen.
+ Bước 3: Tập “đọc hiểu” sơ đồ tư duy sao cho học sinh khi nhìn vào sơ đồ tư duy có thể thuyết trình được nội dung bài học cũng như một chủ đề, một chương theo mạch lôgic của kiến thức.
+ Bước 4: Cho học sinh thực hành vẽ sơ đồ tư duy trên giấy (Vẽ sơ đồ tư duy theo nhóm hoặc theo từng cá nhân).
Ví dụ: Giáo viên hướng dẫn học sinh làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy bài Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập (Lịch sử 5 trang 21) (phụ lục 2)
Ở giải pháp này, từ hoạt động hướng dẫn học sinh làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy bên cạnh việc cung cấp nội dung kiến thức được thể hiện ở sơ đồ tư duy sẽ giúp các em phát huy được năng lực tự học; năng lực giao tiếp cơ bản như: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng đặt câu hỏi; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;… Qua đó hình thành và phát triển cho học sinh những kiến thức, phẩm chất và kĩ năng cơ bản phục vụ tốt trong quá trình học tập và phát triển bản thân.
2.6.2. Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy:
Khi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy, giáo viên giữ vai trò trung tâm. Việc sử dụng phương pháp vấn đáp, kiểm tra hỏi – đáp hay trình bày trực quan qua hình ảnh phải thu hút được tất cả học sinh tham gia để từ việc làm quen học sinh sẽ được tự thực hành trình bày sơ đồ tư duy trên những phương tiện gợi ý của giáo viên. Khi việc vẽ sơ đồ tư duy trở thành thói quen, học sinh sẽ tự tìm kiếm, khám phá nội dung thông tin. Đối với mỗi sơ đồ tư duy, để hoàn thiện cần thực hiện theo 3 bước cơ bản sau:
+ Bước 1: Chọn từ trung tâm (từ khóa) hay một hình ảnh, hình vẽ hợp với tên chủ đề (tên chủ đề có thể là tên bài học, tên mảng kiến thức …)
+ Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1 – các nhánh cấp 1 chính là các nội dung chính của chủ đề.
+ Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2, 3,…và hoàn thiện sơ đồ tư duy – các nhánh cấp 2,3,…chính là các ý trong nội dung của nhánh con trước đó.
Ví dụ 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy bài Đất và rừng (Địa lí lớp 5 trang 79)
Bước 1: Chọn từ trung tâm “Đất và rừng”
Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1: gồm 2 nhánh là “Đất” và “Rừng”
Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2,3…và hoàn thiện sơ đồ tư duy: các nhánh cấp 2,3 chính là các ý: đặc điểm, vai trò, sự phân bố, phân loại trong nội dung của nhánh con trước đó. (phụ lục 3)
Ví dụ 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy bài Nhôm (Khoa học lớp 5 trang 52)
Bước 1: Chọn từ trung tâm “Nhôm”
Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1: có 4 nhánh là “Nguồn gốc”, “tính chất”, “công dụng” và “bảo quản”
Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2,3 và hoàn thiện sơ đồ tư duy. (phụ lục 4)
Ví dụ 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy bài Cấu tạo bài văn tả cảnh (Tiếng Việt 5 tập 1 trang 11)
Bước 1: Chọn từ trung tâm “Cấu tạo của bài văn tả cảnh”
Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1: có 3 nhánh là “Mở bài”, “Thân bài”, “Kết bài”
Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2 và hoàn thiện sơ đồ tư duy. (phụ lục 5)
Trong giải pháp này, qua quá trình học tập và rèn luyện cũng như qua sản phẩm của học sinh đã làm được tôi thấy:
+ Học sinh dễ dàng đưa nội dung kiến thức của mình vào trình bày sơ đồ tư duy.
+ Học sinh rất hứng thú, tích cực tham gia hoạt động.
+ Học sinh được rèn luyện năng lực hợp tác rất nhiều trong các hoạt động nhóm: cùng nhau đặt câu hỏi, cùng nhau trả lời, cùng nhau đưa ra ý tưởng, cùng nhau giải quyết vấn đề,…
+ Năng lực giao tiếp; giải quyết vấn đề và sáng tạo cùng với phẩm chất đoàn kết; chăm học, chăm làm cũng được phát huy tích cực.
2.6.3. Lựa chọn thời điểm sử dụng sơ đồ tư duy:
Sơ đồ tư duy được tôi vận dụng vào kiểm tra bài cũ, dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức một chủ đê, một bài, một chương giúp học sinh ghi nhớ, ôn tập, liên kết các mạch kiến thức đã học.
a. Vận dụng khi kiểm tra bài cũ:
Khi sử dụng sơ đồ tư duy để kiểm tra bài cũ sẽ giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh. Các sơ đồ tư duy ở đây tôi thường sử dụng là ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền và rút ra nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm hoặc gọi học sinh lên bảng vẽ (báo cáo). Tùy theo từng lớp, từng đối tượng học sinh mà giáo viên có thể đưa ra yêu cầu khác nhau. Tôi thấy như vậy dễ kiểm tra và học sinh cũng hào hứng, tích cực xung phong trả lờilàm cho không khí lớp học trở lên vui vẻ, học sinh tiếp thu bài tốt. Sau khi hoàn thành, giáo viên có thể tổ chức cho các em đọc lại kiến thức trên sơ đồ tư duy đó để khắc sâu hơn kiến thức bài học.
Ví dụ 1: Kiểm tra kiến thức về Cách nối các vế câu ghép (Tiếng Việt 5 tập 2 trang 64).
Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền, bổ sung cho hoàn thiện sơ đồ. (phụ lục 6)
Ví dụ 2: Kiểm tra bài cũ kiến thức về Chu vi, diện tích hình tròn (Toán 5 trang 100)
Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng vẽ sơ đồ tư duy đã chuẩn bị trước. (phụ lục 7)
b. Lập sơ đồ tư duy trong việc dạy kiến thức mới:
Giáo viên đưa ra một từ khóa để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khóa đó và hoàn thiện sơ đồ tư duy. Qua đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.
+ Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc nội dung sách giáo khoa, đưa ra tình huống có vấn đề trước khi cho học sinh đọc.
+ Bước 2: Giáo viên và học sinh tìm hiểu, phân tích đặt tên các chủ đề (hoặc giáo viên chọn trước tên chủ đề cần nghiên cứu cho học sinh thiết lập sơ đồ tư duy với các từ khóa đó).
+ Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy theo nội dung chính thông qua các câu hỏi.
+ Bước 4: Học sinh vẽ, khai triển các nhánh của sơ đồ tư duy theo ý của học sinh. (có thể tất cả các nhóm cùng chung nội dung hoặc mỗi nhóm có nội dung khác nhau tùy theo mục tiêu, nội dung bài và đối tượng học sinh).
+ Bước 5: Học sinh báo cáo, trình bày sơ đồ tư duy của nhóm mình.
+ Bước 6: Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét, đánh giá và bổ sung thêm cho bạn.
+ Bước 7: Giáo viên kết luận, chốt nội dung chính cần ghi nhớ. (có thể đưa ra sơ đồ tư duy đã chuẩn bị, gọi học sinh đọc lại).
Ở nội dung này, nếu đối tượng học sinh chưa nắm được cấu trúc cũng như cách vẽ sơ đồ tư duy, giáo viên cũng có thể đưa ra sơ đồ tư duy theo mục tiêu bài học nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung. Sau đó, giáo viên giao việc cho học sinh dưới dạng phiếu học tập dể học sinh vẽ hoặc vẽ tiếp. Từ đó, các em rút ra kiến thức bài học cần ghi nhớ.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình lập phương (Toán 5 trang 11)
+ Bước 1: Giáo viên chia nhóm 4, phát cho mỗi nhóm 1 hình lập phương bằng giấy có cùng kích thước, nêu vấn đề bằng cách đưa ra câu hỏi: Làm thế nào chúng ta tính được diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình lập phương mà em đang có ?
+ Bước 2: Học sinh thảo luận nhóm tìm cách tính toán. Trong bước này, giáo viên quan sát quá trình các nhóm thảo luận, nếu nhóm nào gặp khó khăn có thể giúp đỡ bằng cách đưa ra câu hỏi như: Các mặt của hình lập phương là hình gì? Hình lập phương có mấy mặt xung quanh? Hình lập phương có mấy mặt đáy? Các mặt của hình lập phương có đặc điểm gì?
+ Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy với từ trung tâm Hình lập phương, nhánh 1 với nội dung là Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần.
+ Bước 4: Học sinh vẽ, triển khai các nhánh của sơ đồ tư duy theo ý của nhóm mình.
+ Bước 5: Học sinh báo cáo, trình bày sơ đồ tư duy của nhóm mình.
+ Bước 6: Nhóm khác nhận xét, đánh giá và bổ sung thêm cho nhóm bạn.
+ Bước 7: Giáo viên chốt lại nội dung chính cần ghi nhớ: Muốn tính diện tích xung quanh của hình lập phương ta lấy diện tích 1 mặt nhân với 4; muốn tính diện tích toàn phần của hình lập phương ta lấy diện tích 1 mặt nhân với 6. Giáo viên nhận xét, tuyên dương và khen ngợi nhóm hoàn thành tốt. (phụ lục 8)
Ví dụ 2: Khi dạy bài tập đọc Sắc màu em yêu (Tiếng Việt 5 tập 1 trang 19) ở câu hỏi 2 phần tìm hiểu bài có nội dung: Mỗi sắc màu gợi ra những hình ảnh nào? Tôi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4 để vẽ sơ đồ tư duy, sau đó đại diện các nhóm trình bày trước lớp. Các nhóm còn lại nhận xét để hoàn chỉnh sơ đồ. Giáo viên nhận xét, khen ngợi. (phụ lục 9)
Ví dụ 3: Bài Vệ sinh ở tuổi dậy thì (Khoa học 5 trang 18) (phụ lục 10)
Sau tiết học, những sơ đồ tư duy mà các nhóm hay cá nhân đã tự lập được tôi sẽ cho các em trưng bày ở bảng phụ được gắn ở góc học tập của lớp. Điều này khiến học sinh rất thích thú vì các em sẽ nhớ lâu kiến thức và tự hào về sản phẩm của mình được trưng bày ở lớp. Ngoài ra, nếu các em phát hiện thêm được kiến thức hay, mới liên quan đến từ khóa như thông tin, tranh, ảnh, các em có thể gắn thêm vào sơ đồ tư duy thuyết phục, đa dạng hơn. (phụ lục 11)
c. Lập sơ đồ tư duy trong việc dạy củng cố, ôn tập kiến thức:
Đối với nội dung ôn tập, củng cố theo mảng kiến thức thì hình thức tổ chức thảo luận nhóm theo các bước tương tự như trong dạy kiến thức mới mà tôi đã nêu ở trên nhưng thời gian sẽ nhiều hơn. Sau mỗi bài học, mỗi chương, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ bằng cách vẽ sơ đồ tư duy. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sưu tầm theo mỗi bài học vẽ sơ đồ trên một trang giấy rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Ví dụ 1: Sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức bài Ôn tập về từ loại (Tiếng Việt 5 tập 1 trang 142) (phụ lục 12)
Khi nhìn vào sơ đồ tư duy, học sinh dễ dàng nhận thấy trong nhóm từ loại có 5 từ loại đó là: danh từ, động từ, tính từ, đại từ và quan hệ từ. Các em nhìn rõ được đặc điểm cũng như nêu ra được 1 số ví dụ của từng từ loại. Như vậy, chỉ với một sơ đồ tư duy nhỏ đã giúp học sinh củng cố được kiến thức của nhiều bài đã học. Rõ ràng, sơ đồ tư duy thể hiện cách ghi chép ngắn gọn, khoa học mà hiệu quả rất cao.
Ví dụ 2: Sơ đồ tư duy bài Ôn tập về tính chu vi, diện tích một số hình (Toán 5 trang 166)
Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm vẽ sơ đồ tư duy ghi lại; công thức tính chu vi, diện tích một số hình. (phụ lục 13)
Ví dụ 3: Sơ đồ tư duy bài Ôn tập (Địa lý 5 trang 115)
Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm vẽ sơ đồ tư duy ghi lại: vị trí, diện tích, khí hậu, địa hình, dân cư của Châu Á và Châu Âu. (phụ lục 14)
Như vậy, sơ đồ tư duy là một phương tiện vô cùng hữu ích để học sinh sử dụng trong quá trình học tập. Nó là một phương tiện có thể được sử dụng trong nhiều thời điểm, trong nhiều hoạt động. Học sinh có thể sử dụng sơ đồ tư duy khi muốn kiểm tra lại kiến thức; khi đã hình thành kiến thức và khi tổng hợp lại kiến thức của một hoạt động, một bài học hay một chủ đề trong các môn học. Từ đó, học sinh sẽ thể hiện được những kiến thức, hiểu biết của mình. Các em sẽ phát huy được những năng lực cần thiết như : năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo, quản lí thời gian, thẩm mĩ, khoa học… Cùng với đó, những phẩm chất như: chăm học – chăm làm, tự tin – trách nhiệm, yêu quê hương, đất nước cũng được phát huy.
2.6.4. Hướng dẫn học sinh học tập độc lập, sử dụng sơ đồ tư duy để hỗ trợ học tập, phát huy tính tích cực, sáng tạo và phát triển năng lực tự học.
Học sinh có thể tự sử dụng sơ đồ tư duy để hỗ trợ việc tự học ở nhà, tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ sơ đồ tư duy trên giấy, bìa qua đó củng cố, khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.
Sơ đồ tư duy tối đa hóa được nguồn lực cá nhân, đặc biệt hữu ích trong các hoạt động nhóm. Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kĩ năng thuyết trình cho bạn, cho cô, cho phụ huynh nghe và làm việc khoa học ở trường hay ở nhà. Chỉ cần nhìn vào sơ đồ tư duy, bất kì thành viên nào cũng có thể thuyết trình và nắm được nội dung kiến thức được trình bày.
Hướng cho học sinh có thói quen lập sơ đồ tư duy trước hoặc sau khi học một bài, một chủ đề, một chương hay khi các em tự ôn lại kiến thức để ôn tập ngoài giờ lên lớp sau đó có thể báo cáo, chia sẻ với giáo viên. Học sinh có thể sử dụng sơ đồ tư duy để học tập trên tất cả các môn, tùy theo đặc điểm, nội dung kiến thức có thể áp dụng. (phụ lục 15)
2.6.5. Dạy học tích hợp môn Mỹ thuật trong dạy sơ đồ tư duy phát huy tính sáng tạo và thẩm mĩ cho học sinh.
Khi áp dụng dạy học bằng sơ đồ tư duy, tôi tự lập kế hoạch cho từng tiết dạy cho phù hợp với những đối tượng học sinh. Nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sử dụng hình vẽ tay với màu sắc, hình ảnh hài hòa, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp học sinh tiếp cận vận dụng khi vẽ sơ đồ tư duy. Từ bước làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng một số kiến thức, kĩ năng trong môn Mỹ thuật để vẽ sơ đồ tư duy rõ nét, dễ hiểu và dễ học nhất.
Sơ đồ tư duy cần phải có một hình thức bắt mắt thì người học nhìn vào mới có cảm hứng học tập và dễ dàng ôn tập. Chính vì thế, sử dụng màu sắc trong sơ đồ tư duy là điều cực kì quan trọng mà cả giáo viên và học sinh cần lưu ý. Cần tránh vẽ một sơ đồ tư duy đơn điệu vì sẽ cực kì nhàm chán và rối, khó lòng phân biệt được các nhóm nội dung với nhau, làm cho học sinh cũng khó hình dung nội dung phải học như thế nào. Trong một sơ đồ tư duy, từ ngữ và hình ảnh trung tâm được biễu diễn trên nền màu rõ nét nhất, hình ảnh đặc sắc nhất để làm nổi bật nội dung chính, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt chủ điểm của bài học hay của chủ đề nào đó. Ở nhánh cấp 1, cấp 2 hay cấp 3, các từ ngữ và hình ảnh được biểu diễn trên nền màu rõ ràng, dễ nhìn, dễ phân biệt. Giữa các nhánh gần nhau sẽ sử dụng tông màu dễ làm nổi bật nhau (ví dụ: màu cam – màu xanh da trời, màu đỏ – màu xanh lá, màu vảng – màu tím, màu đỏ – màu vàng – màu xanh da trời, màu cam – màu tím – màu xanh lá,…) để học sinh dễ phân biệt các nhóm kiến thức. Ở bước hướng dẫn này, giáo viên cần làm rõ ngay trong hoạt động cho học sinh làm quen và đọc hiểu sơ đồ tư duy. Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi: “Các em thấy hình ảnh nào nổi bật nhất?”, “Vì sao?”, “Các em thấy màu sắc ở nhánh quang cảnh có bị lẫn màu sắc ở nhánh diễn biến không?” Tùy vào mắt thẩm mĩ và sở thích của mỗi người, các em sẽ tự chọn những màu sắc yêu thích. Tuy nhiên, các em cũng không quá lạm dụng màu sắc, không nên biến sơ đồ tư duy của mình trở nên quá màu mè, mà chỉ nên giới hạn trong khoảng 5 – 6 màu.
Bên cạnh đó, cấu trúc cho một sơ đồ tư duy cũng vô cùng quan trọng và cần thiết. Nếu học sinh trình bày sơ đồ tư duy quá nhỏ trên phiếu bài tập sẽ rất khó tìm kiếm đầy đủ thông tin. Nếu học sinh lại trình bày sơ đồ tư duy quá to trên phiếu bài tập sẽ làm cho các nội dung thông tin giữa các nhánh dễ nhầm lẫn với nhau, khó tìm được mối quan hệ giữa các nhánh thông tin cũng như không thể bổ sung thêm nội dung nếu sau cần bổ sung. Vì thế, với mỗi nội dung kiến thức hay một nội dung chủ đề sẽ có các hình thức trình bày sơ đồ tư duy khác nhau. Chúng ta cần chuẩn bị đầy đủ các mạch nội dung tương ứng với các nhánh để lựa chọn, phác thảo trước sơ đồ tư duy rồi mới trình bày. Những nhánh nào có chứa nhiều nội dung hay có nhiều nhánh cấp nhỏ hơn sẽ cần trình bày ở phần rộng hơn. Còn những nhánh có ít nội dung hay có ít nhánh cấp nhỏ hơn sẽ trình bày ở phần nhỏ hơn.
Đặc biệt, để phát huy tính sáng tạo cho học sinh, giáo viên có thể dẫn dắt, hướng dẫn và gợi ý cho học sinh trình bày sơ đồ tư duy trên nhiều hình thức khác nhau. Trên cùng một nội dung kiến thức hay một chủ đề ôn tập học sinh có thể trình bày trên nhiều hình thức sơ đồ tư duy tùy theo sở thích, năng khiếu và tính sáng tạo của các em.
Ví dụ: Sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức bài Phòng bệnh sốt rét (Khoa học 5 trang 26) (phụ lục 16)
Ở sơ đồ tư duy này, học sinh đã làm rõ nét từ khóa, nội dung kiến thức các nhánh rõ ràng, dễ nhận biết. Trên cùng nội dung kiến thức đó, ở mỗi nhóm học sinh đã lựa chọn hình thức trình bày sơ đồ tư duy khác nhau giúp các em học tập lẫn nhau. Nhìn vào sản phẩm của học sinh, giáo viên càng nhận thấy tầm quan trọng của sơ đồ tư duy trong quá trình phát triển tính sáng tạo và thẩm mĩ của học sinh.
Như vậy ngay từ hoạt động cho học sinh làm quen và tập đọc hiểu sơ đồ tư duy rồi đến hoạt động hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy, giáo viên đã tích hợp dạy học môn mĩ thuật trong đó. Từ đó, phát huy tính sáng tạo và thẩm mĩ cho học sinh. Các em tích cực tìm tòi và sáng tạo ra cái hay, cái đẹp để tạo lên những sơ đồ tư duy mới lạ mà dễ hiểu, dễ học nhất.
2.6.6. Một số hoạt động dạy học trên lớp với sơ đồ tư duy:
Để vận dụng tốt những hiệu quả mà sơ đồ tư duy mang lại, người giáo viên cần tổ chức các hoạt động dạy học như sau:
– Hoạt động 1: Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với sự gợi ý của giáo viên.
Gợi ý của giáo viên có thể được thể hiện thông qua:
+ Các câu hỏi gợi ý: Giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp, đưa ra các câu hỏi để hướng dẫn học sinh tìm ra từ trung tâm cũng như nội dung các nhánh. Thông thường sẽ sử dụng khi vẽ sơ đồ tư duy trong việc dạy kiến thức mới.
+ Trò chơi học tập: Giáo viên tổ chức cho học sinh các trò chơi như: ô cửa bí mật, trò chơi ô chữ, vượt chướng ngại vật để học sinh nhớ lại nội dung kiến thức hay nội dung chủ đề. Trò chơi này giáo viên sẽ sử dụng khi vẽ sơ đồ tư duy để kiểm tra bài cũ hay khi lập sơ đồ tư duy trong việc củng cố và ôn tập kiến thức.
Qua những gợi ý của giáo viên, các em học sinh sẽ hoàn thành lập sơ đồ tư duy của mình.
– Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy của mình hoặc nhóm mình đã thiết lập.
Ở hoạt động này, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh lên thuyết minh về sơ đồ tư duy một cách tự chủ nhất. Nếu là sơ đồ tư duy cá nhân thì sẽ cho em đó lên thuyết minh sản phẩm của mình. Còn nếu là sơ đồ tư duy của nhóm có thể sẽ là đại diện nhóm hoặc các thành viên của nhóm lên thuyết minh. Khi đó, mỗi em học sinh sẽ trình bày 1 nội dung của 1 nhánh. Từ đó hình thành được tinh thần trách nhiệm cũng như phẩm chất tự tin cho học sinh.
– Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy về kiến thức của bài học đó. Giáo viên là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm.
– Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc từ một sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh trình bày, thuyết trình về kiến thức đó.
Trong các hoạt động, giáo viên luôn giữ vai trò là cố vấn, lấy học sinh làm trung tâm – học sinh tích cực hoạt động, tích cực tham gia phát biểu ý kiến, tích cực góp ý và tích cực nhận xét, đánh giá chính mình cũng như nhận xét, đánh giá bạn để từ đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực tự học và bồi dưỡng những năng lực, phẩm chất đáng quý.
2.6.7. Một số lưu ý khi sử dụng sơ đồ tư duy :
– Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung một kiểu sơ đồ tư duy, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho các em về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần).
– Cách ghi chép sơ đồ tư duy :
+ Chữ thuộc nhánh nào thì cùng màu với nét vẽ thuộc nhánh đó.
+ Suy nghĩ kĩ trước khi viết.
+ Nội dung viết cần ngắn gọn.
+ Viết phải có bố cục rõ ràng.
+ Nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý (nếu sau cần).
– Những điều cần tránh khi lập sơ đồ tư duy:
+ Không ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
+ Không ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
+ Không dành quá nhiều thời gian để ghi chép.
+ Tránh cầu kì (tô vẽ quá nhiều) hoặc sơ đồ quá đơn giản không có thông tin mà chỉ có các đề mục.
– Giáo viên chỉ đưa ra sơ đồ tư duy có sẵn khi học sinh bắt đầu làm quen hay khi chốt lại nội dung, mạch kiến thức. Còn khi yêu cầu học sinh thao tác, giáo viên không đưa ra sơ đồ tư duy có sẵn mà phải yêu cầu học sinh tư duy và vẽ.
– Biết cách khêu gợi tư duy để học sinh vẽ được sơ đồ tư duy khoa học và hiệu quả. Sơ đồ tư duy của một tiết học, một chương hay một chủ đề không nhất thiết phải yêu cầu hoàn thiện ngay tại lớp mà giáo viên có thể hướng dẫn học sinh về nhà hoàn thiện, đến buổi học sau giáo viên kiểm tra, đánh giá học sinh kịp thời.
– Sau khi học sinh vẽ xong sơ đồ tư duy thì giáo viên đặt ra những câu hỏi hay những bài tập ngắn liên quan đến nội dung kiến thức bài học để học sinh dựa vào sơ đồ tư duy trả lời tốt nhất, từ đó có thể so sánh, đánh giá giữa các đối tượng học sinh trong lớp.
2.6.8. Một số bài học trong chương trình lớp 5 có thể áp dụng Sơ đồ tư duy
a. Môn Toán
STT
Tiết theo PPCT
Tên bài dạy
1
4
So sánh 2 phân số (tiếp theo)
2
7
Ôn tập: Phép cộng và phép trừ 2 phân số
3
8
Ôn tập: Phép nhân và phép chia hai phân số
4
15
Ôn tập về giải toán
5
48
Cộng 2 số thập phân
6
52
Trừ 2 số thập phân
7
62
Luyện tập chung
8
73
Luyện tập chung
9
80
Luyện tập (Giải toán về tỉ số phần trăm)
10
96
Luyện tập
11
99
Luyện tập chung
12
104
Hình hộp chữ nhật – Hình lập phương
13
105
Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của
hình hộp chữ nhật
14
107
Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của
hình lập phương
15
116
Luyện tập chung
16
119
Luyện tập chung
17
120
Luyện tập chung
18
136
Luyện tập chung
19
139
Ôn tập về số tự nhiên
20
150
Ôn tập: Phép cộng
21
151
Ôn tập: Phép trừ
22
153
Ôn tập: Phép nhân
23
155
Ôn tập: Phép chia
24
159
Ôn tập về tính chu vi, diện tích 1 số hình
25
161
Ôn tập tính diện tích, thể tích 1 số hình
26
164
Một số dạng toán đã học
b. Môn Tiếng Việt
STT
Phân môn
Tên bài dạy
1
Tập đọc
Quang cảnh làng mạc ngày mùa
2
Sắc màu em yêu
3
Cái gì quý nhất ?
4
Trồng rừng ngập mặn
5
Luyện từ
và câu
Từ đồng nghĩa
6
Luyện tập về từ đồng nghĩa
7
Mở rộng vốn từ : Nhân dân
8
Từ nhiều nghĩa
9
Quan hệ từ
10
Luyện tập về quan hệ từ
11
Ôn tập về từ loại
12
Tổng kết vốn từ
13
Ôn tập về câu
14
Cách nối các vế câu ghép
15
Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ (tập 2 trang 21)
16
Ô tập về dấu câu (tập 2 trang 110)
17
Tập làm văn
Cấu tạo bài văn tả cảnh (tập 1 trang 11)
18
Luyện tập tả cảnh (tập 1 trang 31)
19
Luyện tập tả người (Tả hoạt động)
20
Ôn tập về tả đồ vật
21
Ôn tập về tả cây cối
22
Ôn tập về tả con vật
23
Ôn tập về tả cảnh
c. Môn khoa học
STT
Tên bài dạy
1
Bài 2 – 3
Nam hay nữ ?
2
Bài 5
Cần làm gì để cả mẹ và em bé đều khỏe ?
3
Bài 6
Từ lúc mới sinh đến tuổi dậy thì
4
Bài 7
Từ tuổi vị thành niên đến tuổi già
5
Bài 9 – 10
Thực hành: Nói “Không!” đối với các chất gây nghiện
6
Bài 11
Dùng thuốc an toàn
7
Bài 12
Phòng bệnh sốt rét
8
Bài 13
Phòng bệnh sốt xuất huyết
9
Bài 14
Phòng bệnh viêm não
10
Bài 15
Phòng bệnh viêm gan A
11
Bài 16
Phòng tránh HIV/AIDS
12
Bài 20-21
Ôn tập: Con người và sức khỏe
13
Bài 22
Tre, mây, song
14
Bài 23
Sắt, gang, thép
15
Bài 24
Đồng và hợp kim của đồng
16
Bài 25
Nhôm
17
Bài 26
Đá vôi
18
Bài 27
Gốm xây dựng: gạch, ngói
19
Bài 28
Xi măng
20
Bài 29
Thủy tinh
21
Bài 30
Cao su
22
Bài 31
Chất dẻo
23
Bài 32
Tơ sợi
24
Bài 49-50
Ôn tập: Vật chất và năng lượng
25
Bài 51
Cơ quan sinh sản của thực vật có hoa
26
Bài 56
Sự sinh sản của côn trùng
27
Bài 57
Sự sinh sản của ếch
28
Bài 58
Sự sinh sản và nuôi con của chin
29
Bài 62
Môi trường
30
Bài 69
Ôn tập: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
d. Môn Lịch sử và Địa lý
STT
Tên bài dạy
1
Phần Lịch sử
Bài 1
“Bình Tây Đại nguyên soái” Trương Định
2
Bài 2
Nguyễn Trường Tộ mong muốn canh tân đất nước
3
Bài 3
Cuộc phản công ở kinh thành Huế
4
Bài 5
Phan Bội Châu và phong trào Đông Du
5
Bài 6
Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước
6
Bài 7
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
7
Bài 8
Xô Viết Nghệ – Tĩnh
8
Bài 9
Cách mạng mùa Thu
9
Bài 10
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập
10
Bài 11
Ôn tập: Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858 – 1945)
11
Bài 12
Vượt qua tình thế hiểm nghèo
12
Bài 14
Thu – Đông 1947, Việt bắc “mồ chôn giặc Pháp”
13
Bài 15
Chiến thắng biên giưới Thu – Đông 1950
14
Bài 17
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
15
Bài 18
Ôn tập: Chín mươi năm kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc (1945 – 1954)
16
Bài 20
Bến tre đồng khởi
17
Bài 21
Nhà máy hiện đại đầu tiên của nước ta
18
Bài 22
Đường Trường Sơn
19
Bài 24
Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”
20
Bài 25
Lễ kí hiệp định Pa-ri
21
Phần Địa lý
Bài 1
Việt Nam – đất nước chúng ta
22
Bài 2
Địa hình và khoáng sản
23
Bài 3
Khí hậu
24
Bài 4
Sông ngòi
25
Bài 5
Vùng biển nước ta
26
Bài 6
Đất và rừng
27
Bài 7
Ôn tập
28
Bài 10
Nông nghiệp
29
Bài 11
Lâm nghiệp và thủy sản
30
Bài 12
Công nghiệp
31
Bài 13
Công nghiệp (tiếp theo)
32
Bài 15
Thương mại và du lịch
33
Bài 18
Châu Á (tiếp theo)
34
Bà 20
Châu Âu
35
Bài 22
Ôn tập
36
Bài 27
Châu Đại Dương và châu Nam Cực
37
Bài 28
Các đại dương trên thế giới
2.7. Kết quả chuyển biến của đối tượng :
Qua khảo sát tôi thấy rằng chất lượng khi có áp dụng các biện pháp giảng dạy sử dụng sơ đồ tư duy như đã nêu trên đã góp phần nâng cao chất lượng đại trà của học sinh, chất lượng học tập đồng đều hơn, số học sinh khá, giỏi tăng lên kéo theo số học sinh trung bình giảm xuống. Tôi đã thống kê hai kết quả môn Tự nhiên và môn Xã hội của lớp 5B tôi dạy ở trường Tiểu học Hải Long năm học 2022 – 2023 trong 8 tuần học kì I khi chưa áp dụng sơ đồ tư duy trong dạy học và kết quả 2 môn đó do Sở Giáo dục khảo sát cuối tháng 4 năm 2023 khi đã sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học như sau:
Kết quả môn Tự nhiên lớp 5B
Thời gian
Sĩ số
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
8 tuần
học kì I
35
12
34,29
13
37,14
9
25,71
1
2,86
Cuối tháng 4
35
17
48,57
15
42,86
3
8,57
0
0
Kết quả môn Xã hội lớp 5B
Thời gian
Sĩ số
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
8 tuần
học kì I
35
13
37,14
12
34,29
10
28,57
0
0
Cuối tháng 4
35
15
42,86
15
42,86
5
14,28
0
0
Kết quả trên đã chứng minh được tác dụng của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học. Sơ đồ tư duy sẽ hình thành cho học sinh tư suy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách hệ thống, khoa học giúp các em phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo cũng như phát triển tốt năng lực tự học, tư duy lôgic góp phần nâng cao kết quả học tập các môn học cho học sinh lớp 5 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung.
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN MANG LẠI :
1. Hiệu quả kinh tế :
Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học đặc biệt trong dạng bài ôn tập, củng cố kiến thức sẽ giúp cho các em ghi lại kiến thức ngắn gọn, rõ ràng, từ đó sẽ tiết kiệm được giấy, vở trong quá trình ghi chép.
Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy dưới dạng hình ảnh đã được chuẩn bị, khi đó phương tiện, đồ dùng dạy học bằng vật thật sẽ được hạn chế. Giáo viên đã giảm được kinh phí khi chuẩn bị phương tiện, đồ dùng dạy học.
2. Hiệu quả về mặt xã hội :
– Khi duy trì được biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các môn học kết quả học tập của học sinh có sự tiến bộ rõ rệt.
– Về phía giáo viên:
+ Giúp cho giáo việc thiết kế bài dạy, sắp xếp các ý tưởng theo một trình tự khoa học, lôgic, trực quan, hệ thống trên cơ sở mục tiêu, kiến thức trọng tâm của bài học. Nó giúp giáo viên cập nhật thông tin, bổ sung các kiến thức khoa học mới một cách dễ dàng nên làm cho bản thiết kế bài dạy hấp dẫn hơn.
+ Có thể lập kế hoạch giảng dạy của mình, giáo viên có thể giảm số lượng ghi chú cần trong các kế hoạch, từ đó kế hoạch bài dạy trở nên ngắn gọn, rõ ràng, dễ theo dõi .
+ Việc giảng dạy và trình bày các khái niệm trong lớp học thông qua việc cung cấp các trọng tâm hữu ích cho học sinh có sơ đồ tư duy là công cụ lý tưởng.
+ Dễ dàng kiểm tra suy nghĩ cũng như kiến thức của học sinh trước giờ lên lớp và sau khi kết thúc bài học.
– Về phía học sinh:
+ Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn; biết biến những ý tưởng tưởng như phức tạp thành đơn giản hơn; cải thiện khả năng thuyết trình; phát triển tư duy sáng tạo.
+ Các em chỉ cần một lượng thời gian vừa đủ là có thể ôn tập được một lượng kiến thức của một chủ đề, một chương.
+ Gợi hứng thú cho học sinh một cách tự nhiên nhờ đó giúp các em tiếp thu nhiều hơn, tích cực, chủ động hơn trong quá trình tham gia học tập.
– Việc sử dụng sơ đồ tư duy còn giúp các bậc phụ huynh cùng các con ôn tập các kiến thức ở nhà sau giờ học ở trường.
3. Khả năng áp dụng và nhân rộng :
Sáng kiến phù hợp và đã áp dụng thực tế tại lớp 5B năm học 2022 – 2023 mang lại hiệu quả cao và có đã dụng phổ biến trong các môn học ở các khối lớp trong trường và một số trường cấp học.
IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
Tôi xin cam kết giải pháp trên không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
Phạm Thị Hổng
