Chấn hưng văn hóa Việt Nam – yêu cầu được khẳng định từ thực tiễn – Media story – Tạp chí Cộng sản

Xét về bản chất ngôn ngữ học, chấn hưng là làm cho trở thành hưng thịnh, thịnh vượng(1). Chấn hưng văn hóa là làm cho các giá trị văn hóa tốt đẹp của quốc gia – dân tộc được đề cao và phát huy mạnh mẽ hơn. Như vậy, về bản chất, yêu cầu chấn hưng văn hóa hiện nay là tạo ra tác động làm cho các giá trị văn hóa được phát huy, phát triển, đóng góp vào sự phát triển chung để nâng tầm đất nước, đưa đất nước lên một vị thế mới.

Khái quát các mặt tích cực và hạn chế; những yêu cầu của thời kỳ phát triển mới vì sự hưng thịnh của một nền văn hóa; đón trước thời cơ và trên cơ sở nhận diện các thách thức đối với văn hóa Việt Nam trong thời gian tới, có thể khẳng định chấn hưng văn hóa ở nước ta hiện nay là quan trọng và cấp thiết.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(2), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Ngay từ tiêu đề, Tổng Bí thư đã khẳng định “Quyết tâm chấn hưng”, đồng thời trực diện đưa ra định hướng đường lối phát triển văn hóa đất nước trong bối cảnh hiện nay là “xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Quyết tâm và định hướng này của Tổng Bí thư chính là dấu mốc quan trọng đối với quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam; khẳng định thời điểm văn hóa Việt Nam cần được chấn hưng để tạo nền tảng nhận thức đúng đắn, đầy đủ, toàn diện về văn hóa trong mối quan hệ với phát triển; tạo động lực quan trọng cho phát triển bền vững, thông qua khắc phục các hạn chế, tồn tại, phát triển hài hòa, đồng bộ giữa văn hóa với kinh tế, xã hội, với xây dựng đời sống hạnh phúc cho toàn thể nhân dân.

Nhìn lại các cuộc chấn hưng văn hóa trong lịch sử

Lịch sử thế giới ghi nhận thời kỳ Phục hưng(3) đã mang đến những giá trị to lớn cho châu Âu. Sự khởi nguồn của thời kỳ Phục hưng có nhiều tranh cãi, nhưng cơ bản cho rằng Phục hưng bắt đầu từ Firenze (I-ta-li-a), nơi có truyền thống trọng nghệ thuật.

Phục hưng là phong trào văn hóa tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến trí thức và nghệ sỹ châu Âu. Trong cuộc cách mạng tư tưởng, văn hóa, xã hội, khoa học, triết học,… thời kỳ đó, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong thay đổi cách suy nghĩ và hành động của con người, các học giả sử dụng phương pháp nhân văn trong nghiên cứu về thế giới xung quanh, về các hiện tượng khoa học, trong nhìn nhận về hiện thực đời sống, trong cảm xúc nghệ thuật. Việc đề cao, coi trọng các giá trị nhân văn, như tự do, công bằng, đạo đức,… chính là cơ sở thúc đẩy phát triển, xây dựng nền tảng để nhiều ngành, lĩnh vực phát triển mạnh mẽ, là cơ sở để khả năng sáng tạo của con người được khai thác tối đa, đưa đến những thành tựu to lớn, từ phát triển các lý thuyết mới trong các lĩnh vực vật lý, hóa học, toán học, sinh học, giáo dục đến sự ra đời các tác phẩm văn học, nghệ thuật vô giá. Có thể kể đến những thành tựu, như sáng chế bộ đếm số, bảng tính đặt tiền đề cho ngành khoa học máy tính; thành tựu của thuật số học mang đến sự phát triển mạnh mẽ cho ngành in; sáng chế kính viễn vọng và thuyết trái đất quay quanh mặt trời của Galileo Galilei tạo ra bước ngoặt với những hiểu biết mới về vật lý; sáng chế động cơ hơi nước đặt nền móng cho sự bùng nổ của các cuộc cách mạng công nghiệp; các tác phẩm nghệ thuật, như Mona Lisa, The Last summer,… của Leonardo da Vinci, The school Athens, The Sistine Madonna,… của Rafael, Moonlight Sonata, Symphony No.5, Symphony No.9 của Beethoven, Piano Concerto No.21, The Marriage of Figaro,… của Mozart, Brandenburg Concertos, Mass in B Minor,… của Johann Sebastian Bach,… trở thành các di sản vô giá cho hậu thế.

Có thể thấy, những thành tựu của thời kỳ Phục hưng là kết quả sự nỗ lực của các trí thức và nghệ sỹ; cho thấy văn hóa có tầm ảnh hưởng lớn lao đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học,… Văn hóa thời kỳ Phục hưng không chỉ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội châu Âu thời kỳ đó, mà còn là nền tảng, là động lực thúc đẩy sự phát triển, thậm chí định hình một số giá trị cốt lõi của châu Âu hiện đại sau này.

Nhìn lại lịch sử đất nước, không ít cuộc chấn hưng văn hóa đã được kêu gọi và thực hiện. Đó là cuộc chấn hưng văn hóa cách đây hơn 100 năm – cuộc Duy Tân văn hóa do nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh (1872 – 1926) phát động năm 1906. Phong trào diễn ra trong 2 năm và đã tạo nên một dấu ấn quan trọng trong lịch sử. Phong trào chủ trương khôi phục đất nước bằng Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh(4). Thời điểm đó, các yếu tố thúc đẩy cuộc Duy Tân văn hóa chính là những thay đổi về nền tảng kinh tế và cơ cấu xã hội(5), văn hóa Việt Nam trên mọi phương diện, khía cạnh. Đặc biệt, văn hóa tư tưởng, văn hóa đạo đức, văn hóa lối sống… đều đứng trước khủng hoảng. Những giá trị văn hóa truyền thống của nền văn hóa Nho giáo, của chế độ phong kiến, của nền kinh tế nông nghiệp vốn đã ăn sâu vào đời sống xã hội, vào tâm thức người dân bị tác động, ảnh hưởng bởi chính sách nô dịch văn hóa. Chế độ thực dân thực thi chính sách “ngu dân”, khoét sâu tâm lý “an phận thủ thường”, “biến quần chúng thành những đám đông tự ti, khiếp nhược trước sức mạnh của văn minh đại Pháp, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền thống tốt đẹp, phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc”(6), dẫn đến một xu hướng văn hóa biến đổi, lai căng… Những biến đổi nhanh chóng và ngày càng sâu sắc trong đời sống xã hội, trong các quan hệ xã hội, trong nhận thức về các giá trị văn hóa đã tạo ra những áp lực về một cuộc cách tân văn hóa. Thời điểm đó, văn hóa Việt Nam ở vào tình thế phải lựa chọn con đường phát triển.

Năm 1946, chỉ một năm sau khi nước ta giành được độc lập, đất nước đang trong thời kỳ khó khăn, nhưng đứng trước yêu cầu về xây dựng một nền văn hóa mới vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã được tổ chức. Trong bài phát biểu khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam với ba tính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng”(7), và nhấn mạnh văn hóa phải lấy sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh. Hội nghị cũng kế thừa nhiệm vụ được đề ra trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là nền văn hóa mà cuộc cách mạng văn hóa Đông Dương phải thực hiện sẽ là văn hóa xã hội chủ nghĩa.

Hai năm trước khi giành được độc lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 (gọi tắt là Đề cương). Đây được xem là cương lĩnh văn hóa đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau khi thành lập nước năm 1945, tinh thần của bản Đề cương được phổ biến rộng rãi. Đề cương đã đánh giá sơ lược các giai đoạn trong lịch sử văn hóa Việt Nam, những “NGUY CƠ CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM DƯỚI ÁCH PHÁT XÍT NHẬT – PHÁP”(8); nêu rõ tính chất văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ “về hình thức là thuộc địa, về nội dung là tiền tư bản”(9). Đề cương cũng chỉ rõ ba nguyên tắc vận động của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn này là dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa(10). Đó cũng chính là bối cảnh cho thấy tính cấp thiết của Hội nghị văn hóa toàn quốc với những định hướng sâu sắc và cụ thể về đường lối phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.

Chấn hưng văn hóa Việt Nam – yêu cầu được khẳng định từ thực tiễn

Một là, từ những tác động khách quan. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khoa học – công nghệ thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển, mạng xã hội xóa nhòa ranh giới địa lý, ranh giới giữa các nền văn hóa trên không gian mạng. Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng diễn ra mạnh mẽ khiến các quốc gia gần nhau hơn cả trên không gian mạng và trong cuộc sống thực, đồng thời cũng tạo ra xung đột giữa các nền văn hóa, tạo môi trường cho hiện tượng “xâm lăng” văn hóa. “Xâm lăng” văn hóa vừa diễn ra tự nhiên theo quy luật của các nền văn hóa phát triển lấn át, chiếm thị trường của các nền văn hóa ít phát triển hơn, vừa có chủ đích của các chủ thể trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam vốn mang bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa với tính nhân dân rộng khắp và tính dân tộc sâu sắc đã và đang “đối mặt” với những xu hướng văn hóa đa dạng từ các nền văn hóa khác trên thế giới; bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc đã và đang đứng trước những thách thức của các xu hướng mới trong thời kỳ hiện đại… Trong quá trình đó, một số nét văn hóa truyền thống bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với đời sống xã hội hiện nay, và một số cái mới, cái tiến bộ lại chưa định hình một cách rõ nét.

Hai là, hoạt động lãnh đạo, quản lý nhà nước về văn hóa cũng còn bộc lộ một số hạn chế, như văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ, tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực của sự phát triển bền vững đất nước”. Đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo còn không ít khó khăn. Các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, giáo dục, đào tạo, thông tin đại chúng, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản, lý luận và phê bình văn học, nghệ thuật, văn hóa đối ngoại… tuy phát triển về quy mô, phạm vi, số lượng, nhưng chất lượng chưa cao, nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được giải quyết kịp thời. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa. Đầu tư cho văn hóa chưa đúng mức, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao…, nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới(11)…

Ba là, nhân tố con người có những biểu hiện xuống cấp về văn hóa, đạo đức. Yếu tố con người – vốn là trọng tâm, là nhân tố quan trọng nhất cho phát triển cũng đang cho thấy những biểu hiện thiếu tích cực, cần có những giải pháp hữu hiệu để phát huy vai trò trong quá trình phát triển. Các cuộc chỉnh đốn Đảng trong 3 nhiệm kỳ gần đây của Đảng(12) đã chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, đó là hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, là tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống trong xã hội… Những biểu hiện của tình trạng này có xuất phát điểm từ những biểu hiện của nhận thức chưa đúng đắn về các giá trị đích thực của văn hóa trong bối cảnh mới; từ đó có những thái độ hoài nghi, hành động phản cảm và sự thiếu định hướng đúng đắn kịp thời về văn hóa. Một bộ phận chủ thể văn hóa là cá nhân chưa phân biệt được các giá trị văn hóa đích thực, “nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là “vô văn hóa”, “phản văn hóa”)(13). Hiện tượng này thể hiện từ cách ăn mặc, giao tiếp, ứng xử từ trong gia đình đến ngoài xã hội; là nguồn căn của lối sống ích kỷ, thực dụng, tham ô, tham nhũng; là nguyên nhân của hiện tượng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, từ yêu cầu phát triển của bối cảnh mới. Bối cảnh mới đặt ra các yêu cầu:

Trước hết, phải phân biệt được các giá trị văn hóa và phản văn hóa, xác định được một định hướng đúng đắn, phù hợp cho sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam, yêu cầu này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm rõ khi chỉ ra “xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”(14). Tức là phân biệt rõ các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc để chủ động, tích cực vừa gìn giữ, phát huy, vừa phân biệt rõ đâu là các biểu hiện văn hóa không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, phân biệt rõ đâu là các phản giá trị văn hóa. Nhận diện rõ để chủ động tiếp thu các giá trị tinh hoa văn hóa phù hợp của nhân loại trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế.

Thứ hai, những giá trị mới (cả về tinh thần và vật chất) mà văn hóa mang lại trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đó là những giá trị của sức mạnh nội sinh tạo nên “sức mạnh mềm” quốc gia – dân tộc, là những giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa, của thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa,… đặt ra yêu cầu phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, toàn diện về phát triển văn hóa trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong mục tiêu tổng thể vì sự phát triển bền vững, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, từ đó có hành động kịp thời, quyết liệt để chấn hưng văn hóa, làm cho các giá trị văn hóa tốt đẹp của quốc gia – dân tộc được đề cao và phát huy mạnh mẽ hơn, làm cho văn hóa hưng thịnh là yêu cầu tất yếu.

Có thể khẳng định, đây là thời điểm không thể muộn hơn để định hướng con đường phát triển cho văn hóa – đó không chỉ là sự phù hợp với truyền thống văn hóa, là tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, mà còn phải đáp ứng các yêu cầu phát triển của thời đại mới, xứng đáng với tầm vóc, vị thế dân tộc. Quá trình chấn hưng văn hóa phải đồng bộ với chủ trương phát triển các ngành, lĩnh vực khác, phải song hành với thúc đẩy phát triển mới đạt mục tiêu đề ra để hướng tới một nền văn hóa hưng thịnh, góp phần vào sự phát triển toàn diện đất nước.

Bài viết “Quyết tâm chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ đặt ra yêu cầu về một cuộc chấn hưng văn hóa, mà còn đưa ra những định hướng quan trọng cho một cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc – đất nước(15) trong thời điểm hiện nay.