Đại hội II của Đảng (1951) đặt nền tảng cho phong trào hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam

1. Chủ trương xây dựng, phát triển HTX nông nghiệp của Đại hội II

Đại hội II của Đảng xác định, muốn tiến tới chủ nghĩa xã hội (CNXH), Việt Nam phải qua ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt tiền đề cho giai đoạn thứ hai và giai đoạn thứ ba, Đảng nhấn mạnh tới chủ trương phát triển HTX: “Sang giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ giải phóng dân tộc căn bản đã làm xong, trung tâm của cách mạng chuyển sang cải cách ruộng đất. Đảng phải… tiến hành cải cách ruộng đất đặng triệt để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, phát triển hợp tác xã nông nghiệp…”(1). Giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ trung tâm của Đảng là đẩy mạnh việc kỹ nghệ hóa, phát triển kỹ nghệ nặng, phát triển thật rộng bộ phận kinh tế Nhà nước, tập thể hóa nông nghiệp dần dần, thực hiện những kế hoạch dài hạn để gây thêm và củng cố cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, đặng tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội(2).

Đại hội II thông qua các chính sách lớn của Đảng, đề cập tới chủ trương phát triển kinh tế dân chủ nhân dân, trong đó bao gồm bộ phận HTX: “Xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế dân chủ nhân dân Việt Nam gồm có những bộ phận như sau: bộ phận kinh tế nhà nước gồm những xí nghiệp do Nhà nước kinh doanh; bộ phận hợp tác xã gồm những tổ chức kinh tế do hợp tác xã kinh doanh”(3). Đại hội nhấn mạnh vai trò của kinh tế hợp tác xã: “Kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã hợp thành bộ phận xã hội hóa và phải đóng một vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc gia”(4).

Đại hội cũng đề ra những phương sách kinh tế dân chủ nhân dân lớn, trong đó nhấn mạnh: Phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã để xây dựng bộ phận kinh tế xã hội hóa lớn mạnh, làm cho kinh tế nhà nước đóng vai trò lãnh đạo các bộ phận kinh tế khác và kinh tế hợp tác xã hóa dần những bộ phận kinh tế riêng lẻ của tư nhân một cách có lợi chung cho Nhà nước, cho nhân dân và cho cả tư nhân(5).

Xuất phát từ một đất nước có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, Đại hội chủ trương phát triển hợp tác xã nông nghiệp và khẳng định: “Nhiệm vụ trọng tâm về kinh tế của ta lúc này là đẩy mạnh tăng gia sản xuất nông nghiệp. Động viên toàn dân thi đua canh tác; cải cách ruộng đất… Phát triển các hội đổi công, hợp công và hợp tác xã để hợp lý hóa việc sử dụng nhân công, nâng cao mức sản xuất”(6).

Đại hội thông qua báo cáo về kinh tế tài chính, chỉ ra những hạn chế của HTX nông nghiệp: Do trình độ kỹ thuật nông nghiệp của chúng ta lạc hậu, ý thức làm việc tập thể của nông dân còn thấp kém, nên HTX nông nghiệp chưa tổ chức được phổ biến và theo quy mô lớn. Nó còn ở trình độ thấp và đứng trên nền tảng tư hữu về ruộng đất và trâu bò. Hiện nay, những hình thức phát triển mạnh nhất là các hình thức đoàn đổi công, hội hợp công đã phổ biến nhiều ở Bắc Trung Bộ(7).

Đại hội nhận rõ những khuyết điểm trong chính sách phát triển hợp tác xã: Dù sao, chúng ta cũng phải nhận rằng chính sách HTX sản xuất của chúng ta đưa ra chậm và không rõ ràng trong phạm vi toàn quốc. Nhiều cán bộ tự động tổ chức HTX theo lối đại quy mô, bao quát toàn huyện hay toàn xã. Quan niệm về HTX chưa nhất trí khắp nơi: có nơi thì quá xem khinh hợp tác xã, có nơi lại xem hợp tác xã là vấn đề cốt yếu nhất trong nông thôn hiện tại. Nhiều nơi không thấy rõ tác dụng của HTX hiện nay là làm thế nào cho người có công và người có của tham gia đều có lợi, để tình trạng nhân công thừa mà phương tiện thiếu, hoặc thừa phương tiện mà thiếu nhân công(8).

Trên cơ sở đó, Đại hội II khẳng định: “Để cho nông nghiệp, thương nghiệp và thủ công nghiệp thêm điều kiện phát triển có lợi cho tăng gia sản xuất bảo đảm cung cấp, chúng ta có nhiệm vụ đẩy mạnh phong trào hợp tác xã. Nó vừa là móng kinh tế tập thể hóa, vừa là một động cơ tăng sức lao động, hợp lý hóa sự sản xuất và tinh giản sự tiêu phí. Phong trào hợp tác xã cần đẩy mạnh trong nông nghiệp trước hết và cần đặc biệt chú trọng thu hút những người tiểu nông. Hình thức cần phát triển mạnh mẽ hơn cả là những kiểu hợp tác xã sản xuất đơn sơ. Phối hợp với kinh tế cá thể của tiểu nông, nó sẽ có một tác dụng rất lớn lao trong việc phát triển nông nghiệp nói riêng cũng như trong việc phát triển toàn bộ kinh tế nói chung”(9).

Đại hội II đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng HTX: “Nguyên tắc của chúng ta trong việc đẩy mạnh phong trào hợp tác xã là: Tự dân thích, tự dân làm; Chính phủ ra sức giúp đỡ về tổ chức, về cán bộ; Hợp tác xã phải quần chúng hóa, nghĩa là giải quyết khó khăn cho quần chúng và phải có khả năng thu hút ngày càng nhiều nhân dân lao động tham gia”(10).

Như vậy, từ Đại hội II năm 1951, Đảng ta đã chủ trương phát triển HTX, đặt nền tảng cho phong trào HTX nông nghiệp ở Việt Nam khi miền bắc tiến lên CNXH năm 1954 cũng như cả nước sau năm 1975.