Trong khoa học xã hội, câu hỏi “Tính Giai Cấp Của Triết Học Thể Hiện ở đâu” thường xuất hiện khi bạn muốn biết một học thuyết triết học đứng trên lập trường nào, phục vụ lợi ích của ai và vì sao những lập luận, khái niệm, giá trị của nó lại được lựa chọn như vậy. Trả lời ngắn gọn: tính giai cấp của triết học thể hiện ở lập trường thế giới quan – phương pháp luận, ở hệ giá trị và mục đích xã hội mà học thuyết bảo vệ, ở cách nó cắt nghĩa hiện thực – lịch sử – con người, ở thiết chế bảo trợ và trong những thực hành tư tưởng gắn với xung đột lợi ích giữa các giai cấp.
Ngay từ nền tảng, C. Mác chỉ ra: giai cấp xuất hiện khi có chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là tất yếu; và triết học, với tư cách thế giới quan – phương pháp luận của thời đại, tất yếu mang tính giai cấp. Do đó, để hiểu đúng tính giai cấp của triết học, ta phải nhìn vào những mâu thuẫn lợi ích cấu trúc trong xã hội (nhất là khi mâu thuẫn ấy phát triển thành đối kháng). Tham khảo thêm nội dung liên quan đến bản chất mâu thuẫn đối kháng qua bài viết: mâu thuẫn đối kháng tồn tại ở đâu.
VM STYLE hướng dẫn bạn nắm chắc khái niệm, thấy rõ biểu hiện cụ thể, có ví dụ lịch sử và đương đại tại Việt Nam – để đọc triết học tự tin, tỉnh táo, chuẩn phương pháp.
1) Nền tảng không thể bỏ qua: Giai cấp và đấu tranh giai cấp theo Mác
- Nguồn gốc giai cấp: Khi sức sản xuất phát triển đến mức xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xã hội phân hóa thành những giai cấp với vị thế kinh tế – xã hội khác nhau. Trong xã hội nguyên thủy, chưa có sản phẩm dư thừa đáng kể nên chưa có giai cấp; sang chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản… giai cấp mới hình thành và phát triển.
- Tất yếu của đấu tranh giai cấp: Giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động và áp đặt quyền lực chính trị – tinh thần; lợi ích cơ bản của giai cấp bị trị đối lập lợi ích của giai cấp thống trị. Đấu tranh giai cấp là hệ quả trực tiếp và kéo dài dưới nhiều hình thức.
- Nguyên nhân sâu xa: Mâu thuẫn giữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã lỗi thời. Khi mâu thuẫn này đến độ chín, mở ra thời đại cách mạng xã hội.
- Vai trò lịch sử của giai cấp vô sản: Là sản phẩm của đại công nghiệp, đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, chỉ có thể giải phóng mình bằng cách đồng thời giải phóng toàn xã hội; do đó, triết học Mác ra đời với tính giai cấp của giai cấp vô sản, hướng tới xã hội không giai cấp.
Những điểm cốt lõi đó là “xương sống” để bạn nhận diện tính giai cấp trong mọi học thuyết triết học, đặc biệt khi học thuyết ấy bàn đến nhà nước, quyền lực, con người, tự do, công bằng, sở hữu, tiến bộ hay văn minh.
2) Trả lời trực tiếp: Tính giai cấp của triết học thể hiện ở đâu?
Tính giai cấp không nằm ở vài khẩu hiệu, mà thấm vào cấu trúc tư tưởng. Có thể nhận diện qua các “điểm lộ” sau:
- Ở lập trường thế giới quan và phương pháp luận:
- Triết học xuất phát từ lợi ích nào khi cắt nghĩa hiện thực?
- Ưu tiên phân tích lịch sử – cụ thể, mối quan hệ sản xuất, hay chỉ dừng ở những phạm trù trừu tượng tách rời thực tiễn?
- Ở hệ giá trị và mục đích xã hội:
- Bảo vệ duy trì trật tự sở hữu hiện tại hay thúc đẩy thay đổi cấu trúc vì số đông bị bóc lột?
- Tôn vinh “cạnh tranh tự do” và “trật tự tự nhiên của thị trường” (điển hình tư sản), hay nhấn mạnh giải phóng con người khỏi bóc lột (điển hình vô sản)?
- Ở cách chọn vấn đề và ngôn ngữ khái niệm:
- Khái niệm nào được làm trung tâm? Ví dụ: “quyền tư hữu bất khả xâm phạm” (tư sản) đối lập “xã hội hóa tư liệu sản xuất” (vô sản).
- Ở diễn giải lịch sử và thực tiễn:
- Đánh giá cách mạng xã hội như “hỗn loạn”, hay như bước tiến tất yếu khi quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất?
- Ở thiết chế bảo trợ và phổ biến:
- Học thuyết được chống lưng bởi nhà nước, thiết chế giáo dục, truyền thông của giai cấp nào? Điều này quy định đường đi và ảnh hưởng xã hội của nó.
- Ở thái độ trước mâu thuẫn xã hội:
- Coi mâu thuẫn giai cấp là “phiến diện, cần hòa giải vô điều kiện”, hay nhận diện nó là động lực phát triển cần giải quyết bằng cải biến quan hệ sản xuất?
Tóm lại, tính giai cấp thể hiện toàn diện ở chỗ triết học đứng về phía ai, nhằm vào mục tiêu xã hội nào, dùng phương pháp nào để biến hiện thực.
3) Ba minh họa điển hình: phong kiến – tư sản – vô sản
- Triết học phong kiến:
- Chính danh trật tự đẳng cấp, thần quyền – quân quyền; khung giá trị bảo vệ quan hệ sở hữu phong kiến, phục tùng trật tự bất biến. Tính giai cấp: bảo vệ địa vị địa chủ – quý tộc.
- Triết học tư sản:
- Thời cận đại đề cao cá nhân, tự do, bình đẳng – bác ái; nhưng trong hiện thực lịch sử, nó biện minh và hợp thức hóa quyền tư hữu tư liệu sản xuất, quan hệ làm thuê – chủ.
- Khi đại công nghiệp phát triển, những “vũ khí” đánh đổ phong kiến (tự do cạnh tranh, quyền tư hữu) quay lại trói buộc xã hội vào logic tích lũy tư bản.
- Triết học Mác – Lênin:
- Vạch rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản; khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp vô sản, nêu quy luật quá độ chính trị (chuyên chính vô sản) và kinh tế – xã hội để tiến tới xã hội không giai cấp.
- Tính giai cấp: lập trường của giai cấp vô sản, mục tiêu giải phóng con người khỏi quan hệ người bóc lột người.
Trong học tập và sinh hoạt, đừng ngại các câu hỏi đời sống cụ thể bên cạnh triết học. Ví dụ, khi tìm hiểu môi trường học thuật, thông tin như đại học sư phạm hà nội ở đâu giúp bạn định vị địa lý và bối cảnh giáo dục – một mảnh ghép nhỏ nhưng cần thiết cho bức tranh toàn diện.
4) Vì sao triết học luôn mang tính giai cấp (khi xã hội còn giai cấp)?
- Vì triết học là hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng:
- Hệ tư tưởng là “bản đồ tinh thần” để giai cấp định hướng hành động, tổ chức quyền lực, hợp thức hóa trật tự hoặc thúc đẩy cải biến.
- Vì triết học cung cấp khung giải thích “chính đáng”:
- Mỗi giai cấp cần một lăng kính lý luận để biến lợi ích cục bộ thành “lợi ích chung” trong diễn ngôn.
- Vì triết học định hướng phương pháp hành động:
- Nhận thức luận – phương pháp luận quyết định ta cải cách “nhỏ giọt” hay cách mạng “đứt gãy”, trọng “nhân văn hóa” hay “cấu trúc – kinh tế – chính trị”.
Do vậy, chừng nào còn giai cấp, chừng đó triết học còn mang dấu ấn giai cấp. Chỉ trong xã hội không giai cấp (mục tiêu dài hạn theo chủ nghĩa cộng sản), tính giai cấp của triết học mới tàn phai.
5) Ứng dụng ở Việt Nam hiện nay: đọc – hiểu – hành động như thế nào?
- Bám sát điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể:
- Nền kinh tế nhiều thành phần là thực tế khách quan của thời kỳ quá độ; khác biệt lợi ích tồn tại song song với định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra – chủ yếu trên bình diện tư tưởng, chính trị – pháp lý, kinh tế, văn hóa.
- Mục tiêu cốt lõi của “đấu tranh” trong điều kiện mới:
- Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đồng thời xây dựng – hoàn thiện dần những quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp trình độ sản xuất.
- Kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo vệ lợi ích đại đa số người lao động.
- Lực lượng và phương pháp:
- Củng cố liên minh công – nông – trí thức; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; dùng tổng hợp phương thức: giáo dục – thuyết phục, pháp chế – hành chính, đấu tranh trên không gian số, bảo vệ nền tảng tư tưởng trước xuyên tạc.
- Tránh hai cực đoan:
- Cưỡng điệu hóa “đấu tranh” (dẫn tới bảo thủ, ngại đổi mới) hoặc xem nhẹ đấu tranh (dễ mơ hồ, mất cảnh giác). Cân bằng khoa học là nguyên tắc.
Tính giai cấp của triết học trong bối cảnh Việt Nam thể hiện ở việc triết học Mác – Lênin giữ vai trò nền tảng tư tưởng, chỉ đạo phương pháp tiếp cận và hành động – từ hoạch định chính sách đến giáo dục, truyền thông, đời sống văn hóa. Thương hiệu VM STYLE cam kết lan tỏa cách tiếp cận chuẩn xác, có phương pháp, giúp bạn đọc phân biệt rành mạch giữa tri thức đời sống hàng ngày và các vấn đề thế giới quan – phương pháp luận có tính giai cấp.
6) Cách nhận diện nhanh tính giai cấp trong một văn bản triết học
Checklist ngắn gọn:
- Xác định lập trường xã hội:
- Văn bản đứng về phía lợi ích nào (người lao động, chủ sở hữu tư bản, địa chủ…)?
- Truy vết khái niệm lõi:
- Những phạm trù nào được đặt làm trung tâm (tự do sở hữu, công bằng phân phối, bình đẳng thực chất, công lý xã hội…)?
- Đọc phương pháp:
- Nhấn mạnh lịch sử – cụ thể hay phổ quát – trừu tượng? Ưu tiên quan hệ sản xuất hay chỉ đạo đức cá nhân?
- Xem mục tiêu hành động:
- Kêu gọi cải cách duy tân trong khuôn khổ cũ, hay cải biến quan hệ sở hữu – quyền lực?
- Kiểm chứng thực tiễn:
- Lập luận có ăn khớp với mâu thuẫn hiện thực và lợi ích đa số hay chỉ bảo vệ đặc quyền?
Lưu ý: câu hỏi triết học khác với các câu hỏi khoa học tự nhiên – đời sống về vị trí hay địa chỉ cụ thể. Ví dụ, khi bạn tìm hiểu y khoa với thắc mắc van 3 lá nằm ở đâu, bạn đang ở miền tri thức thực chứng – không phải nơi xuất lộ trực tiếp tính giai cấp. Tính giai cấp của triết học bộc lộ khi bàn đến quyền lực, sở hữu, công bằng, tự do, nhà nước, phương pháp nhận thức – hành động.
Tương tự, một thắc mắc dạng địa lý – hành chính như 93 ở đâu cho thấy nhu cầu định vị đời sống; còn triết học trả lời “ở đâu” theo nghĩa lập trường giai cấp: tư tưởng đứng ở đâu trong kết cấu lợi ích xã hội, lịch sử và quyền lực.
Trong sinh hoạt gia đình – tiêu dùng, những câu hỏi như bột thông cống mua ở đâu rất hữu ích cho hành động cụ thể, nhưng không thay thế được công việc nhận diện lập trường tư tưởng khi bạn đọc một văn bản triết học hoặc theo dõi một chủ trương chính sách.
7) Câu hỏi thường gặp
- Tại sao triết học không “trung tính” về giai cấp?
- Vì triết học vừa phản ánh vừa tham dự vào cuộc đấu tranh ý thức hệ trong xã hội có giai cấp; nó cung cấp tính chính đáng cho một trật tự hoặc một sự cải biến trật tự.
- Có phải mọi học giả đều tự biết lập trường giai cấp của mình?
- Không nhất thiết. Lập trường có thể vô thức, được hấp thụ qua giáo dục, môi trường, thiết chế. Nhưng có thể truy vết qua hệ giá trị, cách chọn vấn đề, ngôn ngữ khái niệm, đề xuất chính sách.
- Làm sao học triết học Mác – Lênin hiệu quả trong bối cảnh mới?
- Gắn chặt với phân tích thực tiễn Việt Nam; đọc lịch sử – so sánh quốc tế; cập nhật biến chuyển của lực lượng sản xuất (chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo), mâu thuẫn mới trong quan hệ sản xuất; rèn tư duy phản biện và năng lực hành động.
8) Tóm lược và định hướng hành động
- Tính giai cấp của triết học thể hiện ở lập trường thế giới quan – phương pháp luận; hệ giá trị – mục tiêu xã hội; cách diễn giải lịch sử – hiện thực; thiết chế bảo trợ; thái độ trước mâu thuẫn giai cấp.
- Ba điển hình cho thấy rõ: phong kiến (bảo vệ đẳng cấp), tư sản (hợp thức hóa tư hữu và quan hệ làm thuê), vô sản (giải phóng con người khỏi bóc lột).
- Ở Việt Nam, tính giai cấp của triết học thể hiện trong nền tảng Mác – Lênin, mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất gắn với xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, đấu tranh tư tưởng kiên định nhưng linh hoạt, dựa trên liên minh công – nông – trí.
- Hành động thiết thực:
- Dùng checklist nhận diện lập trường giai cấp trong mọi văn bản triết học – chính sách.
- Đọc gắn với thực tiễn Việt Nam; ưu tiên nguồn tư liệu chuẩn xác.
- Tham gia thảo luận – phản biện lành mạnh, lan tỏa nội dung đáng tin cậy cùng VM STYLE.
Bạn còn băn khoăn về nội dung nào? Hãy gửi câu hỏi để VM STYLE tiếp tục giải đáp, hoặc đề xuất chủ đề bạn quan tâm.
Tài liệu tham khảo
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 28, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- V. I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
- Marxists Internet Archive (bản tiếng Việt), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: https://www.marxists.org/viet/marx/works/1848/manifesto/index.htm
- Marxists Internet Archive (bản tiếng Việt), Phê phán Cương lĩnh Gotha: https://www.marxists.org/viet/marx/works/1875/gotha/index.htm
