I. THỰC TRẠNG:
– Đa số HS tiểu học năng lực làm một bài tập làm văn còn nhiều hạn chế. Lỗi lớn nhất là các em chưa biết sắp xếp các ý cho logic; kế đó là các lỗi: câu văn thiếu hình ảnh, cảm xúc; chưa biết dùng những biện pháp nghệ thuật đã học (so sánh, nhân hóa) để ứng dụng trong văn viết; còn thiên về văn nói nhiều. Đó là chưa kể đến lỗi chính tả, cách trình bày các phần trong một bài văn sao cho đúng và đẹp.
– Đặc biệt đối với lớp 4, lớp 5, việc tìm ý, lập dàn ý trước khi làm một bài tập làm văn cần sự tư duy kĩ lưỡng, tốn nhiều thời gian để tìm ý và sắp xếp các ý. Vì vậy, học sinh gặp không ít khó khăn khi thực hiện dẫn đến chán nản và “sợ” phân môn Tập làm văn. Có HS viết văn chỉ liệt kê, câu văn thiếu hình ảnh và cảm xúc.
Từ kết quả nêu trên, tôi nhận thấy phải tìm ra phương pháp dạy – học tốt nhất để giúp các em khắc phục và hạn chế được những lỗi sai khi làm một bài văn miêu tả.
II. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN
- Hướng dẫn tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý:
a. Tìm hiểu đề: Muốn tìm hiểu đề bài, HS cần đọc kĩ đề, phân tích đề bằng cách trả lời các câu hỏi của GV.
b. Tìm ý: với thể loại văn miêu tả, quan sát là cơ sở chủ yếu để tìm ý. GV đặt câu hỏi kết hợp hướng dẫn HS quan sát theo các hình thức tổ chức dạy-học đa dạng.
c. Lập dàn ý: HS phải tiến hành lựa chọn, sắp xếp thành hệ thống các ý, đưa chúng vào những phần khác nhau của một dàn bài cụ thể.
2. Phối hợp hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong bước tìm ý và lập dàn ý Tập làm văn:
Có rất nhiều phương pháp hướng dẫn HS tìm ývà lập dàn ý như: Phương pháp đàm thoại; tổ chức trò chơi; quan sát; hoạt động nhóm; đóng vai; tham quan môi trường thực tế.
Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như: sơ đồ tư duy, trình bày 1 phút, chúng em biết 3, … đã thực sự phát huy tác dụng tốt, tạo hiệu quả thiết thực trong tiết dạy tập làm văn.
2.1. Áp dụng Kĩ thuật sơ đồ tư duy trong bước tìm ý và lập dàn ý
2.1.1. Cách tiến hành:
– Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy là cách thức GV tổ chức cho HS suy nghĩ một cách chủ động và sáng tạo thông qua hệ thống câu hỏi, khung chủ đề, tình huống, phiếu bài tập,… dưới nhiều hình thức khác nhau (bông hoa, vòi bạch tuộc, mô hình, cây sự kiện,…).
– Sau khi cho HS đọc kĩ đề, GV sẽ cho những câu hỏi khơi gợi nhằm giúp HS nắm rõ các yêu cầu của đề bài.
.jpg)
– Kết hợp cho HS quan sát tranh ảnh hay gợi ra các vấn đề có liên quan nhằm hướng HS vào đề tài.
– GV xây dựng khung mạng trên bảng đồng thời đặt ra các câu hỏi gợi mở. HS làm việc theo nhóm để hoàn thành sơ đồ mạng trong phiều giao việc bằng cách ghi lại các ý dưới dạng từ, cụm từ, xung quanh khung chủ đề. Qua đó, các ý cho bài văn được hình thành.
– Các nhóm sẽ trình bày kết quả nhóm mình, nhóm khác bổ sung.
.jpg)
– Với các ý đã tìm được, các nhóm thảo luận đánh số thứ tự, thông qua việc làm đó các em lập được dàn ý cho bài văn.
– GV gọi vài nhóm trình bày thứ tự các ý mình đã sắp xếp, các nhóm khác trao đổi bổ sung.
.jpg)
– GV nhận xét và sắp xếp các thẻ từ lên bảng theo một trình tự hợp lý tạo nên dàn bài chung cho đề văn.
– Từ dàn bài hình thành, mỗi HS sẽ triển khai các ý cho riêng mình và trình bày trước nhóm rồi trước lớp. Ý kiến của các em sẽ được em khác bổ sung và hoàn thiện. Qua đó, câu văn của các em sẽ trau chuốt hơn, có hình ảnh nghệ thuật hơn, ít sai lỗi dùng từ, đặt câu.
– GV nhận xét.
2.1.2. Ví dụ: Ôn tập về tả con vật lớp 5 (tuần 30)
* Hoạt động tìm ý:
– Mục tiêu: HS liệt kê được các bộ phận chính và hoạt động của con vật và tìm các từ ngữ miêu tả đặc điểm của các bộ phận, hoạt động của con vật đó.
– Đồ dùng dạy học:
GV chuẩn bị thật chu đáo khung sơ đồ tư duy, thẻ từ dùng để làm sơ đồ mạng.
Phiếu bài tập.
– Các hoạt động:
Từ hoạt động tìm ý và sắp xếp các ý mà HS đã làm trong đoạn văn mẫu “Chim họa mi hót” của SGK, GV yêu cầu HS hoạt động nhóm 4 với phiếu bài tập với nội dung sau:
+ Hãy liệt kê các bộ phận chính của con vật, hoạt động của con vật và tìm những từ ngữ thường dùng để miêu tả đặc điểm của hình dáng và hoạt động và trình bày theo sơ đồ mạng.
+ Sau đó yêu cầu 1à 2 nhóm HS nhanh nhất lên trình bày, các nhóm khác theo dõi, bổ sung và cho ra một mạng lưới các ý:

GV dùng thẻ từ biểu diễn sơ đồ tư duy

Sau đó, GV yêu cầu mỗi em làm một sơ đồ tư duy về con vật em định tả.
* Hoạt động lập dàn ý:
– Mục tiêu: HS đánh số thứ tự các ý đã tìm được
– Triển khai hoạt động:
+ Yêu cầu HS tự đánh số thứ tự vào các ý làm thành một dàn ý cho riêng mình.
+ GV mời vài em lên trình bày. GV và HS cả lớp nhận xét, đồng thời đưa ra cách đánh số thứ tự các ý một cách hợp lí nhất
+ Trong khi HS làm, GV bao quát lớp và chú ý hướng dẫn các em HS trung bình và yếu
+ GV tổ chức hoạt động sau: HS diễn đạt các ý đã trình bày trên sơ đồ mạng. Mỗi HS trình bày theo thứ tự các ý đã lập sao cho cách miêu tả thật hay, thật sinh động. Hình dáng và hoạt động của con vật hiện lên một cách chân thật, lôi cuốn, tự nhiên.
Ví dụ: Từng HS diễn đạt câu văn tả đôi mắt của con mèo:
+ Con mèo Mi-mi có đôi mắt sáng và nhanh nhẹn.
+ Đôi mắt của Mi-mi tròn và sáng như hai hòn bi ve.
+ Chú mèo Mi-mi có cặp mắt tròn xoe và tinh nhanh lạ kì.
GV sửa lỗi cho HS, HS bổ sung và rút kinh nghiệm, học hỏi câu văn hay của bạn để tiến hành làm bài viết cho tốt hơn.
* Lưu ý: Đối với HS chưa hoàn thành,GV kịp thời tác động và giúp đỡ các em. Lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các em, không bác bỏ làm các em mất tin tưởng vào bản thân mà chỉ sửa sai nhẹ nhàng. Có thái độ thân thiện, cởi mở với các em. Khuyến khích các em động não và suy nghĩ để tìm ý. Tạo điều kiện cho HS khá-giỏi giúp đỡ các em. GV kịp thời khen ngợi động viên nếu các em tìm được ý để các em hứng khởi trong học tập. GV phải chuẩn bị đồ dùng trực quan kĩ lưỡng và đầy đủ để khắc sâu kiến thức cho HS.
2.1.3. Tác dụng của sơ đồ tư duy trong dạy học tập làm văn:
Phương pháp này hướng đến việc cá thể hóa hoạt động của HS. Thông qua những gợi ý trực quan trên bảng được trình bày theo hệ thống sơ đồ tư duy, HS được gợi ý nhiều ý tưởng cho vấn đề cần giải quyết.
Với cách tổ chức phong phú, đa dạng HS không thấy nhàm chán, nặng nề trong việc học. Trái lại, tư duy của các em được kích thích, được dẫn dắt đi đến nảy sinh nhiều ý một cách tự nhiên, nhẹ nhàng cũng như dễ dàng tạo lập dàn ý từ các ý thu thập được.
2.2. Áp dụng các kĩ thuật dạy học khác:
– Động não: được sử dụng nhiều nhất trong bước tìm ý nhằm giúp HS trong thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng về một mảng nội dung cụ thể ( tả hình dáng, hoạt động, …). Các em được khích lệ cổ vũ tham gia tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra một cơn lốc về ý tưởng). GV liệt kê, phân loại , tổng hợp các ý kiến của HS và rút ra kết luận.
– Phòng tranh: được sử dụng cho hoạt động nhóm. Các nhóm phác họa những ý tưởng về việc tìm ý hoặc lập dàn ý bằng lời hoặc sơ đồ tư duy. Sau đó treo lên tường xung quanh lớp. HS đi xem triển lãm và nêu ý kiến bình luận, bổ sung. Cuối cùng GV tổng hợp, kết luận.
– Chúng em biết 3: có thể sử dụng vào cuối tiết học. Ví dụ: Để viết tốt đoạn văn tả ngôi trường, em cần lưu ý những gì? Sau khi thảo luận trong nhóm 3 người, đại diện nhóm sẽ nêu ra 3 điều cần lưu ý để trình bày trước lớp.
– Trình bày 1 phút: có thể sử dụng vào cuối tiết học nhằm tạo cơ hội cho các em tổng kết lại các kiến thức đã học và đặt câu hỏi về những điều còn băn khoăn thắc mắc.
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN:
Qua việc thực hiện những phương pháp, KT dạy học tích cực trên, đặc biệt là KT dạy học sơ đồ tư duy, HS đã chủ động, tích cực hơn khi học phân môn tập làm văn, thậm chí còn giúp các em tiếp thu nhanh hơn, có logic hơn ở những môn học khác.
Các bài dàn ý và bài văn của HS có ý phong phú hơn, sinh động hơn. Các ý trong một bài văn được HS sắp xếp có logic, không bỏ sót ý; câu văn có hình ảnh có cảm xúc, HS biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật để làm bài văn của mình hay hơn. HS còn chậm cũng biết cách sắp xếp ý, quy trình miêu tả, các ý gãy gọn, làm bài có thứ tự và trình bày đẹp mắt hơn.
Trên đây là kinh nghiệm của bản thân được vận dụng giảng dạy hàng ngày. Tôi mong muốn rằng, thông qua các hoạt động, GV không những chỉ rèn luyện cho các em biết tìm ý, phát triển ý, lập dàn ý và cách diễn đạt ngôn ngữ; mà thông qua đó còn giáo dục các em giao tiếp bằng ngôn ngữ có văn hóa để nhân cách của các em được phát triển và dần hoàn thiện.
Giáo viên thực hiện
HỒ THỊ QUỲNH
