TÓM TẮT:
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chi ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân. Bài nghiên cứu trình bày thực trạng về chi NSNN cho hoạt động khai thác thủy sản ở Việt Nam trong thời gian qua, những vấn đề tồn tại cần được Nhà nước nhanh chóng giải quyết.
Từ khóa: chi ngân sách nhà nước, thủy sản, khai thác thủy sản, Việt Nam.
I. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước có vai trò quan trọng trong điều tiết sự phát triển của nền kinh tế nhằm đạt tới trạng thái ổn định, hiệu quả và công bằng.
Chi NSNN là hoạt động tài chính có ảnh hưởng lớn đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô, như: sản lượng, việc làm và tăng trưởng kinh tế. Thông qua việc quyết định quy mô và cơ cấu chi tiêu, chi NSNN ảnh hưởng trực tiếp đến phân bổ nguồn lực tài chính cho những mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể mà Nhà nước theo đuổi.
Hoạt động của ngư dân khai thác thủy sản trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường gặp rất nhiều khó khăn do vốn ít, trình độ nhận thức hạn chế, thêm vào đó trang thiết bị đánh bắt thì thô sơ, cơ sở hạ tầng cũ kĩ…, vì vậy, chi NSNN có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân diễn ra thuận lợi và hiệu quả.
II. Thực trạng và những vấn đề tồn đọng
1. Chi hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá
* Cảng cá, bến cá
Ngày 15/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 346/QĐ – TTg về phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Đến nay, cả nước đã đầu tư xây dựng được 83 cảng cá từ nhiều nguồn vốn khác nhau (ODA, Biển Đông – Hải Đảo, NSNN…), trong đó: Tuyến bờ đã xây dựng được 65 cảng cá, bến cá (gồm 14 cảng cá loại I và 51 cảng cá loại II và bến cá); tuyến đảo xây dựng được 18 cảng cá (gồm 1 cảng cá loại I ở Cát Bà – Hải Phòng và 17 cảng cá loại II từ Cô Tô – Quảng Ninh đến Thổ Chu – Kiên Giang [1].
Trong khoảng thời gian từ giai đoạn 2010 – 2013, thực hiện quy hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã và đang đầu tư nâng cấp, mở rộng 7 cảng cá loại I/15 cảng cá loại I theo quy hoạch (hoàn thành 3 cảng cá đưa vào sử dụng) từ nguồn vốn do Bộ trực tiếp quản lý (vốn đã giải ngân khoảng 160 tỷ đồng/2.303 tỷ đồng nhu cầu của quy hoạch, tỷ lệ đạt 7% so với nhu cầu. Việc đầu tư xây dựng cảng cá đã góp phần nâng cao hiệu quả chuyến biển, giảm tổn thất thời gian lên xuống hàng hóa phục vụ tàu khai thác [1].
* Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá
Ngày 09/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1349/ QĐ – TTg về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Trong tổng số 131 khu neo đậu tránh, trú bão theo quy hoạch, số khu neo đậu tránh trú bão đã và đang đầu tư xây dựng là 65 khu; đã hoàn thành và đưa vào sử dụng và công bố theo quy định của Nghị định 80/2012/NĐ – CP ngày 08/10/2012 của Chính Phủ về quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão đối với 35 khu (QĐ 1044/QĐ – BNN – TCTS ngày 24/5/2014). Ngoài ra, còn có 06 khu neo đậu đã hoàn thành đưa vào sử dụng hiện đang thực hiện thủ tục công bố theo quy định. Như vậy, tính đến năm 2013, tổng cộng có 41 khu với công suất 30.776 tàu neo đậu theo yêu cầu (đạt 36,6%) so với quy hoạch [1].
Tổng vốn ngân sách Trung ương (NSTW) của Chương trình tránh trú bão được cấp từ 2002 đến hết 2013 là 1.559,9 tỷ đồng (riêng giai đoạn 2010 – 2013 là 1.278 tỷ đồng [10].
Nghị định 67/2014/NĐ – CP ra đời tiếp tục hỗ trợ cho ngư dân trong hoạt động khai thác thủy sản. Cụ thể:
Đối với các hạng mục hạ tầng thiết yếu của cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão (bao gồm cầu cảng, kè bờ, kè chắn sóng, chắn cát; nạo vét luồng ra vào cảng, vùng nước neo đậu tàu; công trình neo buộc tàu; hệ thống phao tiêu, báo hiệu, đèn tín hiệu; hệ thống thông tin liên lạc chuyên dùng), NSTW đầu tư 100% kinh phí xây dựng cảng cá loại 1, khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng. NSTW hỗ trợ đầu tư cho cảng cá loại II và khu neo đậu tránh trú bão cấp tỉnh tối đa 90% đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và tỉnh Quảng Ngãi; tối đa 50% đối với địa phương có điều tiết các khoản thu phân chia về NSTW.
NSTW đầu tư 100% tổng mức đầu tư (kể cả giải phóng mặt bằng, các hạng mục hạ tầng thiết yếu và các hạng mục khác) đối với các tuyến đảo, bao gồm các dự án cảng cá (cảng loại I, loại II) và khu neo đậu tránh trú bão thuộc tuyến đảo…
Trong giai đoạn 2011 – 2015, cả nước đã hoàn thành đầu tư xây dựng 60 khu neo đậu tránh trú bão với công suất đạt 42.131 tàu neo đậu theo yêu cầu (đạt 50,5% so vơi quy hoạch). Hiện nay, đang đầu tư 20 khu neo đậu tránh trú bão với công suất đạt 11.100 tàu neo đậu [10]. Nguồn vốn để thực hiện các chương trình này chủ yếu bằng ngân sách nhà nước từ NSTW và địa phương, kết hợp với các chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 67. Ngoài ra, có thể huy động thêm từ nguồn vốn vay ODA của các nhà tài trợ và từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các hạng mục sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hậu cần nghề cá.
Các khu neo đậu kết hợp với dịch vụ hậu cần đã phát huy hiệu quả cả khi có bão, bảo vệ tài sản và tính mạng của ngư dân, thiệt hại về người và phương tiện giảm hơn so với trước.
* Dịch vụ hậu cần khai thác thủy sản
Dịch vụ hậu cần trên biển hiện nay phần lớn do các hộ gia đình và chủ nậu tự bỏ vốn đóng tàu, tổ chức cung ứng lương thực, thực phẩm, dầu, nước đá và thu mua hải sản trên biển bước đầu cho thấy, hoạt động dịch vụ hậu cần trên biển hiệu quả và có xu hướng phát triển.
Sau khi tàu về cảng cá, hầu hết các chủ tầu đều bán cá cho các chủ nậu vựa, sau đó chủ nậu vựa bán lại cho các doanh nghiệp chế biến, một phần bán cho các chợ cá bán lẻ. Do phụ thuộc vào nậu, vựa trong việc cung cấp xăng, dầu, vốn đóng tàu, mua các trang thiết bị… nên các chủ tàu thường hay bị ép giá khi được mùa, trong khi đó các doanh nghiệp không mua được sản phẩm của các chủ tàu mà phải thông qua nậu vựa nên giá sản phẩm hải sản cao, sản xuất chế biến gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, việc thu mua, kinh doanh nguyên liệu thủy hải sản tại các cảng cá chưa có tính hệ thống, các cơ sở kinh doanh nguyên liệu còn yếu và thiếu; vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, công tác bảo quản sản phẩm và giảm tổn thất sau thu hoạch chưa được chú trọng; hoạt động phụ trợ sản xuất kinh doanh ngư lưới cụ phục vụ khai thác chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, ngư lưới cụ chủ yếu là nhập khẩu.
Các hoạt động khác như: Công tác dự báo ngư trường, công tác phòng chống lụt bão và cứu hộ cứu nạn cũng chưa được quan tâm đúng mức. Thiếu kinh phí, trang thiết bị và cán bộ chuyên môn phục vụ cho công tác dự báo ngư trường. Hệ thống thông tin giám sát tàu cá trên biển chưa được đầu tư và kiện toàn nên việc đảm bảo an toàn cho người và tàu cá còn yếu.
2. Chi hỗ trợ chi phí đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề
Nằm trong Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” theo Quyết định 1956/QĐ – TTg (2010) của Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua công tác đào tạo nghề cho ngư dân đã được quan tâm thực hiện. Sau khóa học, hầu hết ngư dân được đào tạo đã vận dụng kiến thức vào đánh bắt, vận hành phương tiện đánh bắt đạt hiệu quả. Cùng với những kinh nghiệm đi biển, qua đào tạo, các thuyền trưởng đã hiểu và vận dụng an toàn khi đi ngang qua các tuyến hàng hải. Không những vậy, việc đào tạo còn giúp ngư dân giảm bớt chi phí tiêu hao nhiên liệu, kéo dài thời gian đánh bắt trên biển, nắm vững các kỹ thuật bảo quản thủy sản… nên hiệu quả mỗi chuyến ra khơi được nâng lên.
Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn mở các lớp đào tạo nghề hậu cần đánh bắt như đan lưới, chế biến thủy sản…
Tính từ năm 2011 đến tháng 5/2015, các cấp, ngành đã mở hơn 100 lớp đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng với tổng kinh phí hơn 5 tỷ đồng, qua đó cấp chứng chỉ cho 2.892 ngư dân [10]. Với kết quả đạt được, Khánh Hòa là một trong những địa phương đi đầu cả nước thực hiện đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thợ máy và chuyên môn cho thuyền viên, nhờ đó nâng cao giá trị thủy sản sau thu hoạch lên khoản 15% trong mỗi chuyến đi biển, đồng thời góp phần làm cho ngư dân vững tin hơn khi bám biển dài ngày, vừa giúp sản xuất an toàn, vừa nâng cao nhận thức về chủ quyền biển, đảo…
Theo Nghị định 67 có quy định những tàu có công suất từ 400CV trở lên và tàu được đóng bằng vỏ thép hoặc vật liệu mới sẽ được hỗ trợ 100% chi phí đào tạo, hướng dẫn thuyền viên vận hành, đào tạo kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới.
3. Chi hỗ trợ đầu tư vào hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ cho khai thác thủy sản
Trong thời gian qua, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ ngành khai thác thủy sản đã đạt được nhiều kết quả quan trọng đã tạo điều kiện cho ngành phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa năng suất, chất lượng sản phẩm khai thác, việc hỗ trợ công tác nghiên cứu khoa học ngành khai thác thủy sản cần tiếp tục được chú trọng.
Trên thực tế, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ về khai thác thủy sản được ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả góp phần làm tăng sản lượng hàng năm cũng như phục vụ cho việc triển khai các chương trình khai thác hải sản xa bờ. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào 3 mảng chính, gồm: Nghiên cứu và cải tiến ngư cụ, quy trình kỹ thuật khai thác phục vụ sản xuất; Nghiên cứu về các trang thiết bị phục vụ khai thác; Nghiên cứu ứng dụng ngư cụ chọn lọc phục vụ cho công tác bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản.
Nhóm đề tài nghiên cứu về ứng dụng và cải tiến ngư cụ – quy trình kỹ thuật khai thác đã đưa ra các công nghệ khai thác hải sản tiến tiến cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao như: Lưới chụp mực 4 tăng công khai thác mực xà ở vùng biển xa bờ miền Trung; lưới kéo đôi tầng đáy khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ; lưới vây khai thác cá ngừ ở vùng biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ… Các nghiên cứu đều được kiểm chứng qua thực tế và được ngư dân các tỉnh ven biển ứng dụng tại các vùng biển xa bờ mang lại hiệu quả hoạt động tốt.
Nhóm đề tài nghiên cứu về trang thiết bị phục vụ khai thác hải sản tiến hành nghiên cứu về nguồn sáng, chà rạo nhân tạo, phục vụ hiệu quả hoạt động khai thác hải sản. Kết quả nghiên cứu đã xác định được chủng loại bóng đèn, màu sắc ánh sáng và công suất phát sáng phù hợp với nghề lưới chụp mực xà, nghề lưới vây khai thác hải sản.
Ngoài ra, các nghiên cứu, ứng dụng trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất như: Máy dò cá ngang, rada trên các tàu khai thác. Việc ứng dụng các thiết bị này trên tàu đã làm tăng năng suất khai thác của các đội tàu từ 1,5 – 2 lần so với các tàu không sử dụng. Những kết quả nghiên cứu này đã và đang được chuyển giao rộng rãi trong cộng đồng ngư dân ven biển.
Nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng ngư cụ, chọn lọc phục vụ cho công tác bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm thiết bị thoát cá non, thoát rùa biển cho nghề lưới kéo đáy, thoát mực con và cá con cho nghề chụp mực. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quy định cụ thể cho từng loại ngư cụ, loại nghề khai thác ven bờ nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản phù hợp với quy định quốc tế về nghề cá.
Bên cạnh đó, việc hoàn thành 7 bộ tiêu chuẩn quốc gia cho 7 nghề/nhóm nghề khai thác hải sản; xây dựng định mức nghiên cứu khoa học lĩnh vực khai thác phục vụ cho công tác xây dựng, phê duyệt và quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học lĩnh vực khai thác thủy sản. Các bộ tiêu chuẩn, định mức đã đóng góp không nhỏ trong việc phổ biến công nghệ khai thác tiên tiến tới cộng đồng ngư dân áp dụng vào thực tế sản xuất cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý của ngành. Thêm vào đó, việc dự báo ngư trường khai thác đã được thực hiện cho các nghề khai thác chủ yếu như: lưới kéo, lưới rê, lưới vây… Công tác dự báo ngư trường khai thác đã thiết lập được các bản tin dự báo theo mùa vụ, quý, tháng để cung cấp thông tin cho ngư dân tham gia sản xuất trên biển…
Hỗ trợ khác:
Thứ nhất, hỗ trợ chi phí đầu vào
Theo Quyết định 48/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ thì ngư dân được hỗ trợ một phần tiền nhiên liệu. Cụ thể: các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình khai thác, hoạt động dịch vụ khai thác trên các vùng biển xa (Hoàng Sa, Trường Sa, DK1) sẽ được Nhà nước hỗ trợ chi phí nhiên liệu đi, về của các tầu hoạt động trên các vùng biển xa tối đa 4 chuyến biển/tàu/năm với các mức hỗ trợ khác nhau.
Đối với tàu cá lắp máy công suất 90 – dưới 150CV sẽ được hỗ trợ 18.000 đồng/chuyến; tàu cá lắp máy có công suất từ 150 – dưới 250CV được hỗ trợ 25.000.000 đồng/chuyến; tàu cá có công suất từ 250 – dưới 400CV dược hỗ trợ 45.000.000 đồng/chuyến; tàu có công suất trên 400CV được hỗ trợ 60.000.000 đồng/chuyến.
Trong năm 2015, với 23 lần điều hành giá xăng dầu, biên độ điều chỉnh giá không quá cao [28]. Số lần giảm giá, mức giảm nhiều hơn so với số lần tăng giá. Tổng mức giảm giá đã hỗ trợ giảm chi phí đầu vào hoạt động sản xuất bởi giá xăng dầu giảm thì các chi phí liên quan đến hoạt động khai thác như: ngư cụ, nhu yếu phẩm, nước đá… cũng được bình ổn giúp những chuyến đi biển của ngư dân có lãi.
Biểu 1: Tỷ lệ % số hộ được hỗ trợ xăng dầu cho tàu thuyền đánh cá
Thứ hai, Hỗ trợ 100% kinh phí mua một bộ máy thông tin liên lạc sóng HF tầm xa có tích hợp thiết bị vệ tinh (GPS) phục vụ cho việc xác định vị trí tàu hoạt động trên biển và truyền thông tin từ tàu về bờ và ngược lại; thuyền trưởng, thuyền viên và những người làm việc trên tàu được cung cấp miễn phí nước ngọt, dịch vụ y tế thông thường và chỗ ngủ khi lưu lại trên các đảo có điều kiện cung ứng các dịch vụ trên. Ngoài ra quyết định này còn quy định về việc hỗ trợ khắc phục hậu quả đối với thuyền viên và tàu bị nước ngoài bắt giữ, tịch thu hoặc bị đâm hư hỏng, mất chìm tàu: Đối với thuyền viên bị nước ngoài bắt, giam giữ sẽ được hỗ trợ 750.000 đồng/người/tháng kể từ ngày bị bắt giữ; hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng cho các đối tượng là con thuyền viên dưới 18 tuổi, những người thân khác (vợ, bố, mẹ, ông, bà) trên 60 tuổi hoặc mất khả năng lao động; hỗ trợ 100% chi phí mua vé phương tiện về Việt Nam.
Biểu 2: Tỷ lệ % hộ nhận được hỗ trợ máy móc, vật tư sản xuất
Ngoài ra, theo Nghị định 67/2014/NĐ – TTg mới nhất, có quy định thêm:
– Hỗ trợ 100% chi phí đào tạo, hướng dẫn thuyền viên vận hành tàu vỏ thép, hướng dẫn kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới đối với tàu có công suất 400CV trở lên.
– Hỗ trợ chi phí vận chuyển hàng hóa từ đất liền ra tàu khai thác hải sản xa bờ và vận chuyển sản phẩm về đất liền. Mức hỗ trợ 40 triệu đồng/chuyến biển đối với tàu có công suất từ 400CV đến 800CV, 60 triệu đồng/chuyến biển đối với tàu có công suất 800CV trở lên.
– Hỗ trợ 100% chi phí các thiết kế mẫu tàu vỏ thép có công suất 400CV trở lên.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ định 5 đơn vị thiết kế 21 mẫu tàu cá vỏ thép khai thác hải sản, tàu hậu cần khai thác hải sản xa bờ theo Nghị định 67 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản. Theo đó, các đơn vị chỉ định gồm: Tổng công ty Thủy sản Việt Nam (7 mẫu), Khoa Kỹ thuật giao thông – Trường Đại học Nha Trang (5 mẫu), Viện Khoa học Công nghệ tàu thủy – Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam (2 mẫu), Công ty cổ phần Thiết kế và Dịch vụ kỹ thuật tàu thủy Việt Hàn (1 mẫu). Những mẫu tàu khai thác hải sản phục vụ các nghề: lưới rê, lưới vây mạn, lưới vây đuôi, lưới chụp và nghề câu. Riêng Khoa Kỹ thuật, Trường Đại học Nha Trang được giao thiết kế 1 mẫu tàu lưới rê hoạt động ở miền Trung, 2 mẫu tàu lưới chụp hoạt động tại miền Đông và Tây Nam Bộ, 1 mẫu tàu nghề câu hoạt động tại vùng Đông Nam Bộ và 1 tàu dịch vụ hậu cần hoạt động ở miền Trung.
Quá trình đăng kiểm, kiểm tra an toàn kỹ thuật cho thấy những mẫu thiết kế tàu cá vỏ thép đối với các nghề khai thác được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt mang tính chung, đặc trưng cho các vùng, miền: Bắc, Trung, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và phù hợp với yêu cầu thiết kế, ngư dân có thể sử dụng mà không cần điều chỉnh
– Hỗ trợ 100% kinh phí duy tu, sửa chữa định kỳ đối với tàu vỏ thép có công suất từ 400CV trở lên.
Cụ thể, tính đến cuối năm 2015, hỗ trợ chi phí chuyến biển: Tiền Giang và Quảng Bình đã được hỗ trợ 69 chuyến biến với 19.060 triệu đồng; hỗ trợ thiết kế mẫu tàu cá vỏ gỗ: đã thực hiện thiết kế được 21 thiết kế mẫu, trong đó 5 thiết kế mẫu tàu từ 400CV đến dưới 800CV và 5 thiết kế mẫu tàu từ 800CV trở lên; hỗ trợ đào tạo được 430 thuyền viên với kinh phí là 731 triệu đồng [10]
Những vấn đề tồn tại:
Một là, chi NSNN hỗ trợ ngư dân trong khai thác thuỷ sản chưa tác động sâu rộng tới toàn bộ ngư dân.
Hai là, hiệu quả của chi NSNN tác động không đồng đều lên các cụm dân cư khác nhau do trình độ nhận thức của cán bộ và người dân, do đặc thù kinh tế hoặc khả năng triển khai thực hiện của các địa phương cũng như điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của họ.
Ba là, một số loại chi hỗ trợ có thể phù hợp với địa phương này nhưng lại không phù hợp với địa phương kia nên cần có giải pháp cụ thể đi kèm mới có thể thực hiện được.
III. Kết luận
Như vậy, xét dưới góc độ tác động đến hoạt động khai thác thủy sản thì chi NSNN được biểu hiện tập trung chủ yếu thông qua chi NSNN để xây dựng cơ sở hạ tầng, chi đào tạo và nâng cao trình độ cho ngư dân và chi nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ… Việc chi này có tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động khai thác thủy sản của hộ ngư dân, vì thế có vai trò quan trọng, mang tính chất quyết định nhằm hình thành những điều kiện cần thiết và thuận lợi trong hoạt động khai thác. Do đó, Nhà nước cần có chính sách chi hợp lý và hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Đề án Tổ chức lại khai thác hải sản, Hà Nội.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(2013), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2013 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Đề án Đầu tư cho nuôi trồng và khai thác hải sản ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội.
4. PGS.TS Vũ Đình Thắng, GVC.KS Nguyễn Viết Trung (2005), Kinh tế thủy sản, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.
5. Quyết định 459/QĐ – TTg ngày 28/4/2008 về việc thí điểm trang bị máy thu trực canh cho ngư dân.
6. Quyết định 1569/QĐ – TTg ngày 27/11/2009 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.
7. Số liệu tự tính của tác giả dựa trên kết quả điều tra của TCTK tiến hành 2 năm một lần 2010, 2012, 2014.
8. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định 48/QĐ – TTg ngày 13/7/2010 về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ, khai thác, nuôi trồng thủy sản trên các vùng biển xa.
9. Thủ tướng Chính phủ (2014), Nghị Định 67/NĐ – CP ban hành 7/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một chính sách phát triển thủy sản.
10. Trang website:
www.baobinhthuan.com.vn
www.baothanhhoa.vn
www.baokhanhhoa.com.vn
www.Thuysanvietnam.com.vn
www.vasep.com.vn
www.voer.edu.vn
www.Vietnamnet.vn
www.vietnamplus.vn
www.wcagmard.gov.vn
CURRENT SITUATIONS OF VIETNAMESE GOVERNMENT’
BUDGET SPENDING FOR FISHERIES EXPLOITATION
ACTIVITIES AND LIMITATIONS
Master. HO THI HOAI THU
Faculty of Economics, Academy of Finance
ABSTRACT:
State budget spending plays an important role in supporting and facilitating fisheries exploitation activities of fishermen. This study analyzes the expenditures of Vietnamese government for fisheries exploitation activities during the past period and identifies limitations related to this situation.
Keywords: State budget spending, fisheries, fisheries exploitation, Vietnam.
Xem toàn bộ ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 03 tháng 03/2017 tại đây
