Điện Biên Phủ – Thắng lợi của thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc

Tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, Đảng ta xác định đây là cuộc kháng chiến: “Toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh”, ngay trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “…bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc hễ là người Việt Nam thì đều phải đứng lên đánh đuổi giặc Pháp, cứu Tổ quốc”1. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, toàn dân, toàn quân ta từ Bắc chí Nam, từ rừng núi, nông thôn đồng bằng đến đô thị, đâu đâu cũng đứng lên đoàn kết chiến đấu, cùng các lực lượng vũ trang càng đánh càng mạnh, từng bước giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính, đẩy quân địch vào thế sa lầy, bị động. Lời kêu gọi ấy có sức mạnh lan tỏa, hiệu triệu nhân dân khắp nơi nô nức tòng quân tham gia phối hợp với chủ lực chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã có hàng vạn dân công tham gia tải thương, gùi lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị vào phục vụ chiến trường; xẻ núi, bạt đèo cho bộ đội ta kéo pháo vào trận địa, đóng góp nhiều nhất của cải và tài sản của mình làm cách mạng. Chưa bao giờ khí thế lại trào dâng mãnh liệt đến như vậy, thế trận chiến tranh nhân dân ấy đã trở thành bức thành đồng vững chắc nhấn chìm bè lũ bán nước và cướp nước. Thế trận ấy vì một mục tiêu duy nhất: chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Chỉ tính riêng nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã đưa ra tiền tuyến 9.000 tấn gạo, nhân dân tỉnh Lai Châu đóng góp cho Điện biên Phủ 2.666 tấn gạo, 226 tấn thịt; 210 tấn rau xanh, huy động 16.972 dân công, tham gia 517,210 ngày công; 348 ngựa thồ, 58 thuyền mảng, đóng góp 25.070 cây gỗ để làm đường2. Nhân dân Liên khu 5 trong 4 năm từ 1951-1954 đã đóng góp 1.322.600 tấn thóc và số tiền tương đương 1.500.000 tấn. Nhân dân cả nước đóng góp 25.056 tấn gạo, góp 26 vạn người đi dân công hỏa tuyến, riêng tuyến hậu cần chiến dịch đã sử dụng lực lượng khoảng 33.500 người phục vụ với hơn 30.000 ngày công. Trong 4 năm từ 1950-1954, ta khôi phục và mở rộng 3.670km đường cũ, làm 505km đường mới, trong đó đường vận tải chiến lược dài 2.080km3.

Cùng với hoạt động tác chiến của các lực lượng quân sự, công tác hoạt động bảo đảm phục vụ cho chiến dịch cũng được tiến hành rất khẩn trương. Hàng đêm có tới 200 xe tải, xe kéo pháo ra vào trận địa, hàng trăm xe đạp thồ vận chuyển gạo, đạn, nhu yếu phẩm phục vụ chiến đấu, mỗi xe bằng nhiều sáng kiến thồ được từ 200-300kg. Công tác vận chuyển đường sông cũng được chú trọng, để bảo đảm cho công tác vận chuyển được thuận lợi, 103 thác dữ ở Nậm Na được khắc phục làm cho dòng sông trở nên dịu hiền, nhiều tấm gương phá thác dữ như đồng chí Phan Tư được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Công tác bảo đảm được thực hiện với nhiều cách sáng tạo để vận chuyển thuốc nổ như: hơ nóng lá chuối tươi cho mềm rồi gói thuốc nổ, rồi dùng cơm nếp giã nhuyễn để bịt ngòi nổ rồi buộc chặt vào đầu cây dài đưa xuống sâu lòng thác để phá thác…

Công tác tổ chức hậu cần cũng được hoàn thiện dần cùng với các hoạt động tác chiến, kết hợp tổ chức hậu cần địa phương với Hội đồng cung cấp từ Trung ương tới liên khu, tới tỉnh, hình thành mạng lưới cung cấp, huy động nhân, vật lực ở các địa phương, kết hợp nguồn trên cấp, nguồn địa phương và nguồn khai thác tại chỗ, phát huy hậu cần nhân dân bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi. Thế trận hậu cần đó chỉ có thể có được từ thế trận chiến tranh nhân dân mà thôi4.