Phản xạ đồng tử là cơ chế sinh lý quan trọng giúp mắt tự điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào, bảo vệ võng mạc và phản ánh tình trạng hoạt động của hệ thần kinh. Cơ chế này diễn ra qua chuỗi dẫn truyền phức tạp từ võng mạc đến não giữa và mống mắt, điều khiển sự co – giãn của đồng tử để thích nghi với thay đổi ánh sáng môi trường. Khi phản xạ đồng tử bị rối loạn, đó có thể là dấu hiệu của các vấn đề nghiêm trọng như tổn thương dây thần kinh sọ, rối loạn hệ thần kinh tự chủ hoặc khối u nội sọ. Vì vậy, việc kiểm tra phản xạ này giúp bác sĩ đánh giá mức độ và vị trí tổn thương thần kinh, đồng thời hỗ trợ phân biệt nguyên nhân do thiếu máu cục bộ hay chèn ép cấu trúc, góp phần chẩn đoán chính xác hơn.
Bài viết dưới đây sẽ phân tích rõ định nghĩa, cơ chế sinh lý, ý nghĩa lâm sàng của phản xạ đồng tử, cùng các phương pháp đánh giá và xét nghiệm dược lý thường được sử dụng để phát hiện bất thường và hỗ trợ chẩn đoán trong thực hành lâm sàng.
Phản xạ đồng tử là gì?
Đồng tử là một lỗ tròn nhỏ nằm ở trung tâm của mống mắt, đóng vai trò điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào mắt. Ở người lớn khỏe mạnh, kích thước đồng tử dao động từ 2 đến 4 mm trong điều kiện ánh sáng mạnh và từ 4 đến 8 mm khi ở trong bóng tối, với cả hai đồng tử thường có kích thước bằng nhau.
Phản xạ đồng tử là sự co lại của đồng tử khi có ánh sáng chiếu trực tiếp vào một mắt, được gọi là phản xạ trực tiếp, hoặc khi ánh sáng chiếu vào mắt đối bên, gọi là phản xạ đồng thuận. Ngoài phản xạ ánh sáng, đồng tử còn giãn ra trong môi trường tối để tăng lượng ánh sáng thu nhận và co lại khi mắt tập trung vào vật thể ở gần, được gọi là phản xạ điều tiết.
Phản xạ gần là một tổ hợp ba hiện tượng hiệp đồng bao gồm điều tiết thủy tinh thể, hội tụ hai mắt và co đồng tử, đây là thành phần cơ bản của thị giác lập thể. Cung phản xạ ánh sáng đồng tử bắt đầu từ các tế bào thụ cảm quang trên võng mạc, truyền qua đường dẫn thị giác đến não giữa và quay trở lại mống mắt qua hệ thần kinh phó giao cảm.
Cơ chế phản xạ đồng tử
Kích thước đồng tử được kiểm soát bởi hoạt động phối hợp của 2 cơ có cấu trúc và chức năng đối lập: cơ thắt đồng tử gây co đồng tử và cơ giãn mống mắt gây giãn đồng tử. Sự cân bằng giữa hai hệ thống thần kinh tự chủ này quyết định đường kính đồng tử trong mọi điều kiện ánh sáng và trạng thái hoạt động.Hệ thống phó giao cảm (Cơ thắt đồng tử):
- Cơ thắt đồng tử nằm ở rìa mống mắt dưới sự chi phối của hệ thần kinh phó giao cảm, có nguồn gốc từ nhân Edinger-Westphal ở não giữa
- Các sợi thần kinh phó giao cảm đi cùng dây thần kinh vận nhãn (dây sọ não số III), chiếm vị trí bề mặt khi ra khỏi não giữa ở khoang liên cuống não
- Trong hốc mắt, các sợi này tiếp hợp tại hạch mi, sau đó các sợi sau hạch đi trong dây thần kinh mi ngắn để chi phối cơ thể mi và cơ thắt đồng tử
- Tỷ lệ sợi thần kinh chi phối cơ thể mi so với đồng tú là khoảng 30:1, giải thích tại sao tổn thương thần kinh thường gây rối loạn điều tiết nặng hơn rối loạn đồng tử
- Acetylcholine đóng vai trò chất dẫn truyền thần kinh cho cả chức năng điều tiết và co đồng tử
Hệ thống giao cảm (Cơ giãn mống mắt):
- Cơ giãn mống mắt chạy theo hướng xuyên tâm từ rễ mống đến rìa ngoại vi của cơ thắt, chứa các thụ thể α-adrenergic phản ứng với norepinephrine
- Đường dẫn truyền giao cảm bao gồm ba nơ-ron liên tiếp: Nơ-ron thứ nhất nằm ở vùng dưới đồi sau bên, đi xuống qua thân não đến cột tế bào trung gian bên của tủy sống ở mức C8-T2
- Nơ-ron thứ hai là sợi tiền hạch, xuất phát từ các rễ vận động C8, T1, T2, đi lên theo chuỗi giao cảm qua đỉnh phổi đến hạch cổ trên
- Nơ-ron thứ ba là sợi sau hạch, cung cấp sợi sudomotor cho các tuyến mồ hôi ở mặt theo các nhánh động mạch cảnh ngoài và đi vào hốc mắt theo động mạch mắt để chi phối cơ giãn đồng tử và cơ Mueller của mi mắt
- Norepinephrine được giải phóng ở đầu xa của nơ-ron thứ ba, kích thích cơ giãn đồng tử và gây giãn đồng tử
Phản xạ đồng tử có ý nghĩa gì?
Phản xạ đồng tử không chỉ giúp điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào mắt mà còn là một “tín hiệu cảnh báo” quan trọng phản ánh tình trạng hoạt động của hệ thần kinh điều khiển mắt. Thông qua phản ứng co giãn của đồng tử, bác sĩ có thể nhận biết được liệu các đường dẫn truyền thần kinh giữa mắt và não có hoạt động bình thường hay không.
Trong điều kiện bình thường, khi chiếu sáng vào một mắt, cả hai đồng tử đều co lại – một phản ứng tự động cho thấy sự phối hợp tốt giữa dây thần kinh thị giác (truyền cảm giác ánh sáng) và dây thần kinh vận nhãn (điều khiển cơ co đồng tử). Nếu phản xạ này yếu, mất hoặc không đối xứng, điều đó có thể cho thấy sự tổn thương ở một trong các dây thần kinh hoặc vùng não liên quan.
Dựa vào cách đồng tử phản ứng, bác sĩ có thể xác định nguyên nhân chẳng hạn như rối loạn ở dây thần kinh thị giác, dây thần kinh điều khiển vận động mắt, hay tổn thương tại vùng não giữa. Trong một số trường hợp, phản ứng bất thường của đồng tử còn giúp nhận biết những bệnh lý đặc hiệu như Hội chứng Horner, Đồng tử Adie hoặc tổn thương do phình mạch não.
Ngoài việc chẩn đoán, phản xạ đồng tử cũng giúp đánh giá tiên lượng trong một số bệnh lý thần kinh. Ví dụ, người bị liệt dây III nhưng đồng tử vẫn phản ứng bình thường thường có khả năng hồi phục tốt mà không cần can thiệp phức tạp.
Phản xạ đồng tử là một cơ chế sinh lý quan trọng, giúp bác sĩ đánh giá tình trạng hoạt động của hệ thần kinh và phát hiện sớm các rối loạn liên quan đến đường dẫn truyền thị giác. Việc kiểm tra phản xạ đồng tử một cách chính xác có ý nghĩa đặc biệt trong chẩn đoán và định vị tổn thương thần kinh mắt, hỗ trợ phân biệt nguyên nhân thiếu máu cục bộ, chèn ép hay tổn thương sợi thần kinh, từ đó đưa ra hướng điều trị và tiên lượng phù hợp cho bệnh nhân.
Mắt Sài Gòn là hệ thống bệnh viện chuyên khoa mắt lớn nhất Việt Nam, điểm đến tin cậy cho mọi nhu cầu chăm sóc và điều trị bệnh lý nhãn khoa. Với đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, tiêu chuẩn điều trị chất lượng vàng và trải nghiệm khách hàng vượt trội, Mắt Sài Gòn cam kết mang đến dịch vụ khám chữa bệnh an toàn và hiệu quả. Đặc biệt, hệ thống còn sở hữu dải công nghệ phẫu thuật khúc xạ hiện đại và đa dạng nhất Việt Nam, đáp ứng mọi nhu cầu điều trị từ cơ bản đến chuyên sâu. Tìm hiểu thêm về các phương pháp xóa cận tiên tiến tại https://uudai.matsaigon.com/.
Danh sách tài liệu tham khảo
- Walker, H. K., Hall, W. D., & Hurst, J. W. (Eds.). (1990). The pupils. In Clinical methods: The history, physical, and laboratory examinations (3rd ed.). Butterworths. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK381/
