
Vậy nhưng, thực tiễn phát triển giữa các tỉnh có cùng lợi thế về “nguồn vốn” thiên nhiên – thời điểm trước khi sáp nhập tỉnh (ví như Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Bình, Hải Phòng, Cao Bằng hay Đồng Tháp) trong khoảng 10 năm trở lại đây cho thấy: Việc lựa chọn mô hình phát triển theo hướng “nâu” hay “xanh” của từng địa phương, còn phụ thuộc lớn vào tư duy, quyết định của người đứng đầu.
Câu chuyện “ưu tiên” phát triển ximăng và bảo tồn di sản thiên nhiên giữa tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình (thời điểm trước khi hợp nhất tỉnh) là minh chứng rõ thấy nhất. Đây cũng là hai địa phương cùng được Mẹ Thiên nhiên ban tặng “kho báu” – nguồn vốn di sản thiên nhiên vô cùng quý giá (đặc biệt là hàng trăm núi đá vôi và các loại động vật đặc hữu, quý hiếm; nhất là loài Voọc mông trắng chỉ duy nhất có ở Việt Nam), nhưng thực tế mỗi tỉnh lại có hướng phát triển khác nhau.
Một thực tế dường như ai cũng dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai địa phương trên là thông qua hình ảnh lưu lại từ vệ tinh hay flycam. Nếu như Ninh Bình bao trùm với vô vàn gam màu xanh của núi rừng xanh tươi; thì Hà Nam, đặc biệt là tại khu vực Kim Bảng và Duy Tiên lại phản ánh rõ nét gam màu chủ đạo là “trắng xám” bởi hàng loạt ngọn núi đá vôi đã và đang bị khai thác đến đau xót.
Thực tế trên càng rõ ràng hơn khi suốt hơn 10 năm nay, hàng nghìn hộ dân sinh sống quanh các vùng mỏ tại Kim Bảng (khu vực có diện tích rừng và đất rừng lớn nhất Hà Nam) lại đang phải “sống mòn” với ô nhiễm bởi khói bụi do hoạt động nổ mìn, khai thác đá, sản xuất ximăng, vật liệu xây dựng ở trên địa bàn.
Cũng gần một thập kỷ qua, hàng chục văn bản từ các Bộ, ngành, tổ chức quốc tế liên tiếp gửi đến chính quyền Hà Nam, đề nghị thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mông trắng để bảo tồn, bảo vệ quần thể linh trưởng đặc hữu quý, hiếm lớn thứ 2 trên thế giới khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng. Thế nhưng, đến nay, dự án thành lập khu bảo tồn trên vẫn đang bị tắc nghẽn, chưa có quyết định chính thức.
“Hơn 20 năm trước, tôi vào đây sinh sống, nhìn rừng thích lắm. Không khí mát mẻ, ngắm động vật hoang dã đẹp vô cùng. Nhưng từ khi các mỏ đá, công xưởng, nhà máy công nghiệp, đặc biệt là Nhà máy ximăng Bút Sơn, Nhà máy ximăng Long Thành, đi vào hoạt động, núi rừng ngày một thu hẹp. Môi trường thì bị tàn phá tàn khốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Tôi từng nghe lãnh đạo các cấp nói rằng không thể đánh đổi môi trường lấy sức khỏe con người, nhưng thực sự ở thôn, xã tôi đây là người ta đánh đổi. Tất cả chỉ vì tiền. Chúng tôi kêu gọi nhiều lắm rồi, đơn từ đi khắp nơi rồi, khổ lắm rồi, nhưng không thay đổi gì. Xin đừng tàn phá môi trường khủng khiếp như hiện nay nữa,” bà N.T.M.H (hơn 60 tuổi) ở thôn Hồng Sơn, xã Thanh Sơn không khỏi xót xa, chia sẻ.

Trong khi đó, tại Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình) – địa phương nổi tiếng với Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, trong suốt hơn 20 năm nay, để bảo tồn thiên nhiên và giá trị đa dạng sinh học, đặc biệt là quần thể Voọc mông trắng lớn nhất thế giới, các cấp, ngành và người dân đã tích cực bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường sống của các loài động, thực vật, giữ lại những nét hoang sơ vốn có của Vân Long.
Nhờ lựa chọn bảo tồn, hướng phát triển bền vững, các loài động thực vật ở Vân Long đã được bảo vệ và sống an toàn trong “ngôi nhà xanh” của mình. Từ một vùng đầm lầy, ngập nước quanh năm không ai đến, đầm Vân Long đã được Ủy ban Danh lục xanh toàn cầu (IUCN) phê duyệt và chứng nhận Danh lục xanh đầu tiên ở Đông Nam Á và trở thành khu du lịch xanh nổi tiếng bậc nhất tại Ninh Bình và cả nước.
Nhận thức được giá trị của việc bảo tồn, người dân sinh sống ở quanh khu vực Vân Long cũng ứng xử trách nhiệm với thiên nhiên, trở thành những “đại sứ” du lịch, nhờ đó mà có thêm thu nhập bền vững, hạnh phúc bên di sản thiên nhiên.
Phấn khởi giới thiệu với phóng viên, ông Tô Văn Ninh (thôn Vườn Thị, xã Gia Hòa, tỉnh Ninh Bình), cho biết xung quanh khu vực thôn Vườn Thị hiện có 7 đàn Voọc mông trắng, mỗi đàn có 9-20 cá thể. Hơn 20 năm nay, nhờ bảo vệ tốt sinh cảnh, nên khách về chiêm ngưỡng rất đông. Cũng vì không bị tác động xấu, môi trường trong lành, không bị khói bụi nên các loài động vật từ trên rừng lẫn dưới nước, đặc biệt là các quần thể Voọc rất thân thiện, gần gũi với con người.

“Với chúng tôi, đây cũng là niềm tự hào khi có cơ hội được quảng bá hình ảnh của quê hương; có thêm thu nhập nhờ mô hình du lịch cộng đồng, du lịch xanh, thông qua các hoạt động như dẫn khách tham quan khu bảo tồn, ngắm Voọc,” ông Ninh tự hào và tiết lộ nhờ hoạt động này, mà mỗi ngày, ông cũng có thêm được 500.000 đến 2 triệu đồng, tùy thời điểm, nhiều nhất là vào các tháng mùa Đông.
Nhìn từ góc độ cơ quan quản lý, ông Tăng Xuân Hòa – Phó Chi cục trưởng Chi cục Nông nghiệp và Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nam (thời điểm tháng 5/2025) cũng thẳng thắn cho rằng thời gian qua, một số nơi trên địa bàn tỉnh (như Kim Bảng, Thanh Liêm) chú trọng về khai thác khoáng sản, có ảnh hưởng đến môi trường. Còn đối với Ninh Bình thì họ rất kiên trì đi theo hướng phát triển xanh.

Được ví như “Thủ đô bảo tồn,” trong nhiều năm qua, Vườn Quốc gia Cúc Phương (tại tỉnh Ninh Bình) – Vườn quốc gia đầu của Việt Nam, cũng luôn được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cũng như Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình đặc biệt quan tâm. Thông qua việc triển khai nhiều mô hình bảo tồn, phát triển du lịch bền vững, vườn không chỉ là “hình mẫu” về bảo tồn, mà còn là “trường học lớn” giữa đại ngàn, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng.
Ông Nguyễn Cao Sơn – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình, cho hay tỉnh là một trong những địa phương được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đa dạng và phong phú, phân thành 5 hệ đặc trưng. Nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, trong nhiều năm qua, tỉnh đã tích cực tham gia và thực hiện các Công ước quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học, Luật Đa dạng sinh học và Luật Bảo vệ môi trường.
Đặc biệt, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều hành động để đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát triển kinh tế-xã hội địa phương đã có sự gắn kết với nội dung bảo tồn đa dạng sinh học, thể hiện trong Nghị quyết số 21-NQ/TU về xây dựng tỉnh Ninh Bình là thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo, Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050…
Nhờ đó, độ che phủ rừng của tỉnh Ninh Bình ngày càng gia tăng và tới năm 2025, độ che phủ của rừng tăng lên 19,3%; công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ, triển khai các dự án và hợp tác quốc tế trong bảo tồn đa dạng sinh học được chú trọng; nhiều mô hình phát triển du lịch kết hợp với dịch vụ sinh thái được phát triển tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù riêng của Ninh Bình.

Đối với Vườn quốc gia đầu tiên Việt Nam, ông Lê Phương Triều – Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương cho biết nơi đây có hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với tính đa dạng sinh học rất cao, trong đó còn lưu giữ nhiều loài động, thực vật đặc hữu và quí hiếm. Vì vậy, nhiệm vụ của vườn là bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên hiện có; tổ chức nghiên cứu khoa học về các giá trị tài nguyên thiên nhiên, văn hóa lịch sử, khảo cổ; tổ chức giáo dục môi trường và dịch vụ.
Với phương châm “Bảo vệ rừng tận gốc,” ông Triều cho biết hiện nay kiểm lâm vườn đang áp dụng phần mềm SMART để quản lý tài nguyên rừng và giám sát đa dạng sinh học. Vườn cũng đã thành lập Trung tâm cứu hộ, bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm, nhằm: Cứu hộ, bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý hiếm do săn bắt, buôn bán bất hợp pháp; nghiên cứu sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt và bán hoang dã; phục hồi sức khỏe, tái thả và theo dõi ngoài môi trường tự nhiên.
Ngoài ra, Vườn Quốc gia Cúc Phương còn sưu tập, trồng bảo tồn nguồn gen trên 800 loài thực vật quý; xây dựng các quy trình kỹ thuật, chuyển giao kết quả nguồn gen cho nhân dân vùng đệm và các đơn vị khác để nhân rộng; thu thập, trưng bày và lưu trữ bộ xương và 50 mẫu vật công cụ của người tiền sử̉, 12.000 mẫu thực vật, 182 mẫu thú và chim, 280 mẫu lưỡng cư – bò sát…
Từ “kho báu” quan trọng trên, Vườn Quốc gia Cúc Phương đã sáng tạo xây dựng các tour, tuyến du lịch như: Động Người xưa, các cây cổ thụ, xem chim, xem thú đêm, chinh phục “Nóc nhà Cúc Phương”; hành trình xuyên rừng ngủ bản, thăm các chương trình cứu hộ; “Về nhà” (du khách được tham gia tái thả động vật sau cứu hộ); hành trình hồi sinh, tham gia các hoạt động cứu hộ, chăm sóc động vật hoang dã; Chương trình Giáo dục trải nghiệm thiên nhiên dành cho học sinh phổ thông các cấp; tổ chức chương trình trồng cây thêm xanh cho cánh rừng già…
Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương Nguyễn Văn Chính tự hào cho hay nhờ các sáng kiến, mô hình trên, Cúc Phương đã xây dựng nên “Trường học lớn” ở giữa đại ngàn, qua đó thu hút được đông đảo khách du lịch, đặc biệt là các học sinh, sinh viên tới tham quan, tìm hiểu; qua đó góp phần nâng cao nhận thức cũng như lan tỏa giá trị của công tác bảo tồn, bảo vệ các loài động, thực vật, đa dạng sinh học.
Ngược lên vùng cao nguyên rộng lớn ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, Cao Bằng cũng là tỉnh thu hút được đông đảo du khách tới tham quan nhờ định hướng nhất quán về bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt là bảo vệ “kho báu” địa chất tự nhiên. Nhờ đó, Công viên địa chất Non nước Cao Bằng đã được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu (thành viên thứ hai của Việt Nam, sau Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang). Nơi đây ghi dấu những trang sử địa chất kéo dài hơn 500 triệu năm với nhiều di sản độc đáo từ các dạng địa hình karst cổ, hóa thạch sinh vật biển, trầm tích núi lửa cho đến hệ thống hang động, thác nước, hồ núi đá vôi.
Kể từ khi được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu, vào năm 2018, tỉnh Cao Bằng đã triển khai hàng loạt chương trình hành động nhằm hiện thực hóa các khuyến nghị của tổ chức này. Tỉnh này xác định công tác bảo tồn di sản địa chất gắn liền với phát triển kinh tế du lịch bền vững; các tuyến trải nghiệm như “Khám phá Phia Oắc – Vùng núi của những đổi thay,” “Trở về nguồn cội,” “Trải nghiệm văn hóa bản địa ở xứ sở thần tiên,” “Một thời hoa lửa” được hoàn thiện, đưa khách du lịch tiếp cận các điểm di sản theo hướng thân thiện với môi trường.

Cùng với đó, các chương trình giáo dục cộng đồng về Công viên địa chất Non nước Cao Bằng cũng được triển khai đến các trường học. Đặc biệt, tiếng Tày-Nùng được đưa trở lại giảng dạy như một phần của công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể.
Đặc biệt, nhờ quan tâm tới phát triển bền vững thông qua việc phát huy vai trò của cộng đồng địa phương trong bảo tồn di sản, không ít người dân ở các làng Tày, Nùng,… đã trở thành hướng dẫn viên du lịch bản địa, chủ homestay sinh thái, hay tình nguyện viên gìn giữ các điểm di sản khỏi nạn xâm hại, phá hoại./.

