Tượng Pharaon Kheops tạc bằng ngà voi, đó là hình tượng về vua Ai Cập duy nhất còn giữ được. Kheops đội vương miện của quốc vương Ai Cập cổ đại, còn tay cầm chiếc quạt lông lễ nghi.
Nhưng trước khi khối đá đầu tiên trong số hơn hai triệu khối đá dùng để xây dựng kim tự tháp được đục đẽo trên công trường khai thác đá ở bờ đông sông Nill, người ta đã tiến hành nhiều công tác chuẩn bị phức tạp. Thoạt đầu cần phải tìm một khu đất thích hợp để xây dựng kim tự tháp. Trọng lượng của công trình là 6 400 000 tấn, bởi vậy đất phải đủ độ vững chắc để kim tự tháp không lún xuống dưới tác động của trọng lượng riêng. Mặt bằng xây dựng được chọn ở phía nam Cairô, thủ đô Ai Cập hiện nay, trên chỗ nhô lên của cao nguyên trong sa mạc cách làng Giza 7km về phía tây. Khu đất lẫn đá tảng vững chắc này đủ sức chịu được trọng lượng của kim tự tháp.
Đầu tiên, người ta san bằng khu đất. Để làm việc này, người ta đã đắp chung quanh đó một cái đập không thấm nước cát và đá. Bên trong ô vuông mới hình thành ấy người ta lại đào một mạng lưới dày đặc những con mương không lớn lắm, trực giao nhau, làm cho khu đất giống như một bàn cờ khổng lồ. Các con mương được dẫn nước vào đầy, độ cao của mực nước được đánh dấu trên các thành mương, sau đó tháo nước ra. Những người thợ đá đã bạt đi tất cả những gì nhô cao hơn mặt thoáng của nước, và các đường mương lại được đổ đầy đá. Thế là nền kim tự tháp đã được xây dựng xong.
Trên 4000 họa sĩ, kiến trúc sư, thợ đá và các loại thợ thủ công khác đã hoàn thành những công tác chuẩn bị này trong gần 10 năm.
Chỉ sau đó mới có thể bắt đầu việc xây dựng kim tự tháp. Theo nhà sử học Hy Lạp Hêđôrốt (490-425 trước CN), việc xây dựng đã được tiếp tục thêm khoảng 20 năm nữa; gần 100 000 người đã lao động xây nên lăng mộ Kheops khổng lồ. Chỉ riêng tiền chi cho các thực phẩm phụ của thợ xây dựng như củ cải, hành, tỏi cũng đã tốn gần 20 tỷ mác Đức hiện nay.
Những số liệu về số lượng thợ nói trên bị nhiều nhà nghiên cứu đương thời nghi ngờ. Theo ý kiến họ, đơn giản là trên công trường xây dựng không có đủ chỗ cho một số lượng người như vậy: hơn 8000 người không thể lao động có năng suất mà không phiền vướng nhau.
Vào thời kỳ xây dựng kim tự tháp, Ai Cập là một đất nước giàu có. Hàng năm, từ cuối tháng 6 đến tháng 11, sông Nil dâng lũ, nước tràn ngập đồng ruộng quanh vùng, để lại một lớp phù sa dày, biến vùng sa mạc khô cằn thành đất phì nhiêu. Bởi vậy vào những năm thuận lợi có thể thu hoạch mỗi năm ba vụ: ngũ cốc, trái cây và rau củ.
Như thế là, từ tháng 6 đến tháng 11, những người nông dân không thể lao động trên đồng ruộng của mình. Và họ đã rất vui mừng khi hàng năm, vào giữa tháng 6, nơi làng họ xuất hiện người của vua đến ghi tên những ai muốn làm việc trên công trường xây dựng kim tự tháp.
Hầu như tất cả mọi người đều muốn được làm việc này, và như vậy có nghĩa là công việc ấy không phải là lao động cưỡng bức, mà là lao động tự nguyện. Điều đó được giải thích bởi hai lý do: mỗi người tham gia công trình đều được có chỗ ở, có quần áo, được ăn và có tiền tiêu vặt. Sau 4 tháng, khi nước sông Nil rút khỏi đồng ruộng, những người nông dân lại trở về làng quê của mình. Ngoài ra, mỗi người Ai Cập đều coi mình có nghĩa vụ tự nhiên và lấy làm vinh dự được tham gia xây dựng kim tự tháp cho vua. Bởi vì, mỗi người đóng góp phần hoàn thành nhiệm vụ vĩ đại này đều hy vọng rằng vận mệnh bất diệt của Đức vua cao cả có liên quan đến bản thân mình. Vậy nên cuối tháng 6, những người nông dân lũ lượt kéo đến các căn lều tạm và phiên chế thành từng tổ 8 người.
