Khái niệm, nội hàm kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Kỷ nguyên

Có nhiều cách gọi/phân kỳ về lịch sử phát triển của nhân loại, quốc gia, dân tộc, của mỗi dòng tộc, gia đình, và thậm chí là của mỗi đời người (nói nôm na là gọi theo cách lịch sử), như: giai đoạn, thời kỳ, thời đại, chặng đường, từ năm đến năm, trang sử mới, chương sử mới, vận (vận nước đã đến rồi – bình minh chiếu khắp nơi), thời, kỷ (Hồng Bàng), kỷ nguyên (Ánh sáng, Vươn mình),… Nhiều khái niệm, cách nêu (nói và viết) gần/đồng nghĩa với nhau và nhiều chặng đường có thể gọi theo cách khác nhau tùy không gian, rộng dài của lịch sử mà mỗi tác phẩm, tác giả nêu trong những tình huống, công trình cụ thể. Trong các văn bản chính thống, những bộ sách khoa học về lịch sử thường xuất hiện mấy khái niệm sau:

Giai đoạn: Thường phải có mốc thời gian; khoảng ngắn trong một thời kỳ; không nhất thiết đặt tên (Thời kỳ kháng chiến chống Pháp có 3 giai đoạn là phòng ngự, giằng co, tiến công. Thời kỳ chống Mỹ có các giai đoạn theo việc chiến thắng từng chiến lược chiến tranh.

– Thời kỳ: Thường là một thời gian dài, nhiều đoạn/giai đoạn; phải có tên – nội dung chính của thời kỳ (giai đoạn thì có thể chỉ cần nói mốc, như 1945 – 1946; nhưng không ai nói là thời kỳ 1945 – 1946 cả – về diễn đạt thường là giai đoạn 1945 – 1946, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược).

Giai đoạn thì chỉ cần nêu thời gian, người nghe/đọc tự hình dung nội dung bên trong; thời kỳ thì chỉ cần nói tên của thời kỳ, người nghe/đọc tự biết là từ năm nào đến năm nào.

Cũng không quá máy móc trong cách diễn đạt “giai đoạn” và “thời kỳ”, bởi như đã nêu trên thì điều này phụ thuộc vào độ dài rộng của lịch sử mà một tác phẩm đề cập. Trong bài “Chuyển đổi số – Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới” – Tổng Bí thư Tô Lâm viết là “Giai đoạn 1954 – 1975” và không đặt tiêu đề, đó là đặt trong tổng thể thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ; còn đặt trong tổng thể tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam thì từ năm 1954 đến năm 1975 là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà hoặc là thời kỳ tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược.

– Thời đại: có mấy cách đặt/gọi.

1- Theo cách tiếp cận nền văn minh (đồ đá, đồ đồng, nông nghiệp, công nghiệp, số hóa…). Cách này, thời đại lẫn/gần với thời kỳ dài (thời đại phong kiến – thời kỳ phong kiến.).

2- Gắn với một lãnh tụ đưa đất nước vào một nấc thang phát triển mới, nhiều thành tựu, rực rỡ (thời đại Hồ Chí Minh).

3- Một nấc thang phát triển mới, dấu ấn mạnh mẽ – theo nghĩa này thì “thời đại” rất gần nghĩa với “kỷ nguyên” (thời đại/kỷ nguyên Phục hưng – (Renaissance Era), kỷ nguyên Khai sáng – (Age of Enlightenment). Kỷ nguyên là một khoảng thời gian dài được xác định bởi các sự kiện, đặc điểm hoặc giai đoạn lịch sử quan trọng, có tác động đáng kể đến sự phát triển và tiến hóa của xã hội, văn hóa hoặc khoa học.

“Kỷ nguyên mới” thường được dùng để chỉ một giai đoạn mới mẻ với những tiến bộ, đổi mới, hoặc thay đổi đáng kể trong nhiều lĩnh vực như công nghệ, xã hội, kinh tế hay chính trị, mang lại sự thay đổi lớn trong cách con người sống và làm việc. Ví dụ, thời đại số hóa hay kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo được xem là những kỷ nguyên mới với những đổi mới mạnh mẽ trong công nghệ và cách thức con người giao tiếp, làm việc.

Có ý kiến cho rằng “kỷ nguyên mới là khoảng thời gian sắp tới, cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu mới, lớn lao”; thường bắt đầu từ những cột mốc có tính bước ngoặt là một chặng đường phát triển, gắn với những nỗ lực cho các mục tiêu mới, lớn lao.

Từ những khái niệm trên, có mấy điểm đáng lưu ý khi tìm hiểu khái niệm “kỷ nguyên”:

Thứ nhất, nếu như các khái niệm khác thường rất rõ mốc đầu, mốc cuối (các nhà sử học phải “định” mốc từ đầu), thì “kỷ nguyên” không quá chú trọng về mốc cuối. Đương nhiên một kỷ nguyên thường bắt đầu với một sự kiện nổi bật hoặc thay đổi lớn trong xã hội, chính là “khởi điểm” từ đó đánh dấu sự chuyển đổi sang một giai đoạn mới.

Thứ hai, nếu như các khái niệm khác (nhất là thời đại, thời kỳ) thường dựa trên các yếu tố của hình thái kinh tế-xã hội, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, công cụ lao động,… thì “kỷ nguyên” đề cập nhiều đến trạng thái phát triển và trạng thái ấy phải là vượt bậc xét cả ở tốc độ và chất lượng (Không ai nói đến một kỷ nguyên mà mang tính bình bình, đều đều; càng không nói đến trạng thái yếu kém, lạc hậu).

Thứ ba, nếu như các khái niệm khác phải “có trước, có sau” (thời kỳ trước, thời kỳ sau), thì “kỷ nguyên” không cần kỷ nguyên trước, kỷ nguyên sau (liền kề) – và đến nay chưa ai hỏi nhân loại đã qua bao nhiêu kỷ nguyên liên tiếp.

Thứ tư, trong một thời kỳ, thời đại gắn với một phương thức sản xuất/thể chế chính trị nào đó, một kỷ nguyên mới xuất hiện; nói cách khác, kỷ nguyên phát triển không bị ràng buộc trong khuôn khổ thời gian một chế độ chính trị nào đó, không phải bắt đầu trùng/cùng với sự xuất hiện của chế độ mới. Kỷ nguyên có thể xuất hiện sau mốc khởi đầu của chế độ mới, xuyên qua các chế độ.

Một chế độ mới, thời đại mới không có nghĩa là một kỷ nguyên phát triển mới. Đôi khi chế độ/thời đại ấy phải qua những giai đoạn/thời kỳ tích lũy, chạy đà, tạo tiền đề,… mới bước vào kỷ nguyên mới. Nhưng chắc chắn kỷ nguyên phải mang ý nghĩa nâng tầm thời đại.