Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA) cung cấp tập dữ liệu Ecoregions (Vùng sinh thái) để làm khung không gian cho việc nghiên cứu, đánh giá, quản lý và giám sát hệ sinh thái cũng như các thành phần của hệ sinh thái. Vùng sinh thái biểu thị những khu vực có sự tương đồng chung về hệ sinh thái cũng như loại, chất lượng và số lượng tài nguyên môi trường. Những khu vực đa mục đích này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cấu trúc và triển khai các chiến lược quản lý hệ sinh thái trên các cơ quan liên bang, cơ quan tiểu bang và tổ chức phi chính phủ chịu trách nhiệm về nhiều loại tài nguyên trong cùng một khu vực địa lý.
Phương pháp được dùng để biên soạn bản đồ này dựa trên giả định rằng các khu vực sinh thái có thể được xác định thông qua việc phân tích các mẫu hiện tượng sinh học và phi sinh học, bao gồm địa chất, địa hình, thảm thực vật, khí hậu, đất, việc sử dụng đất, động vật hoang dã và thuỷ văn học. Tầm quan trọng tương đối của từng đặc điểm sẽ khác nhau giữa các vùng sinh thái.
Tập dữ liệu này bao gồm sơ đồ phân loại vùng sinh thái của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA), cũng như sơ đồ của Uỷ ban Hợp tác Môi trường (CEC). Các vùng sinh thái có tính phân cấp, trong đó Cấp IV là cấp chi tiết nhất và Cấp I xác định các phân loại rộng nhất. Do hệ thống phân cấp này, các tính năng ở Cấp III vẫn giữ lại thông tin từ Cấp I và II. CEC chia toàn bộ Bắc Mỹ thành các vùng sinh thái riêng biệt cho Cấp I, II và III, trong khi USEPA chỉ làm như vậy cho Hoa Kỳ ở Cấp III và Cấp IV. Các cột bắt đầu bằng “us” thuộc lược đồ USEPA và các cột bắt đầu bằng “na” thuộc lược đồ CEC. Phiên bản được nhập của tập dữ liệu này chỉ chứa các đối tượng cho Hoa Kỳ lục địa (tức là không bao gồm Alaska và Hawaii). Các phương pháp được dùng để xác định các vùng sinh thái được giải thích trong Omernik (1995, 2004), Omernik và những người khác (2000), Gallant và những người khác (1989).
*Do nhà cung cấp dữ liệu tính toán.
