Trữ lượng dầu khí của Việt Nam hiện nay là bao nhiêu? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn có những con số và thông tin rõ hơn.
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á có đường bờ biển dài với đa dạng nguồn tài nhiên thiên nhiên. Một trong số đó là dầu khí, nguồn tài nguyên rất quan trọng hiện nay.
Trữ lượng dầu khí của Việt Nam
Tại Biển Đông
Năm 1966, theo Ủy ban Kinh tế của Liên Hiệp Quốc về châu Á và Viễn Đông, Biển Đông là khu vực có trữ lượng dầu khí lớn, với khoảng 3 đến 7 tỷ tấn dầu.
Các công ty dầu khí và giới chuyên gia của Trung Quốc đưa ra con số rất tiềm năng là khoảng 17 tỷ đến 50 tỷ tấn dầu.
Tuy nhiên, theo nhiều thông tin từ Mỹ thì trữ lượng dầu ở đây chỉ vào khoảng 1,5 tỷ tấn.
Trữ lượng dầu khí của Việt Nam tại thềm lục địa
Thềm lục địa Việt Nam rộng hơn 200 hải lý tùy địa hình.
Năm 2005, trong công trình do Tổng công ty Dầu Khí Việt Nam biên soạn, tổng trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi của Việt Nam vào khoảng 4,3 triệu tấn.
Vào năm 2008 có đánh giá cho rằng tổng trữ lượng dầu khí có thể đưa vào khái thác là 3.8 đến 4,2 tấn.
Năm 2010 có đánh giá tổng tiềm năng dầu khí khoảng hơn 9 tỷ mét khối.
Theo đánh giá của Cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA), trữ lượng xác minh vào khoảng 4,4 tỷ thùng dầu và 24,7 nghìn tỷ feet khối
Tại các bể trầm tích
Đến nay Việt Nam xác định được 8 bể trầm tích Đệ Tam trong phạm vi thềm lục địa. Gồm bể Sông Hồng, Hoàng Sa, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Tư Chính – Vũng Mây, Trường Sa và Mã Lai – Thổ Chu.
Bể Sông Hồng có thể đạt trữ lượng 1,1 tỷ mét khối quy dầu.
Bể Cửu Long có trữ lượng tiềm năng có thể thu hồi là 2,6 -3 triệu mét khối quy dầu.
Bể Nam Côn có khoảng 900 triệu mét khối quy dầu.
Bể Mã Lai Thổ Chu khoảng 350 triệu tấn quy dầu.
Bể Tư Chính – Vũng Mây có khoảng 800-900 triệu tấn quy dầu.
Riêng 2 bể Hoàng Sa và Trường Sa, EIA cũng thừa nhận rất khó ước tính chính xác về tiềm năng dầu khí khu vực này. Các con số đưa ra cũng chỉ mang tính phác họa.
Hoạt động khai thác dầu khí
Hoạt động khai thác dầu khí ở nước ta đang được duy trì tại thềm lục địa phí Nam. Đó là các mỏ: Bạch Hổ, Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc và PM3.
Năm 1988, nước ta đạt mốc khai thác 1 triệu tấn dầu thô đầu. Năm 2001 đạt 100 triệu tấn.
Đến năm 2010, Việt Nam đã khai thác tấn dầu thô thứ 260 triệu.
Về hoạt động khai thác và thu gom khí, năm 1997 đạt 1 tỷ mét khối khí đầu tiên. Năm 2003 đạt 10 tỷ m3 và đến 2010 thì đạt tổng cộng 64 tỷ mét khối khí khai thác và thu gom.
Trong năm 2003, tổng sản lượng khai thác đạt 17.6 triệu tấn dầu và 3 tỷ mét khối khí. Đến 2009 thì con số tăng lên 16,3 triệu tấn dầu và 6 tỷ mét khối khí. Toàn bộ sản lượng trên đã đóng góp cho GDP xuất khẩu của Việt Nam lên tới 7 tỷ USD.
Nhờ vào trữ lượng dầu khí của Việt Nam cao, hoạt động khai thác dầu khí với mức tăng trưởng tốt, chúng ta đã đưa ngành dầu khí trở thành ngành kinh tế quan trọng, chiếm tỷ trọng cao về kim ngạch xuất khẩu.
Mỏ khí mới phát hiện năm 2020
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mới công bố vừa phát hiện thêm mỏ dầu khí có trữ lượng lớn.
Mỏ này nằm tại lô 114, thuộc bể sông Hồng ngoài khơi thềm lục địa phía Bắc Việt Nam.
Theo ước lượng ban đầu, mỏ Kèn Bầu có trữ lượng từ 7 đến 9 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên tại chỗ và khoảng từ 400 đến 500 triệu thùng.
Đây là tiền đề cực kỳ quan trọng cho các hoạt động tìm kiếm thăm dò cũng như phát triển khai thác tiếp theo tại Lô 114 và các khu vực lân cận.
Sự kiên này góp phần phát triển mạnh mẽ công nghiệp điện khí tại miền Trung. Thành công này góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Quay lại trang chủ
