LSVNO – Thời kỳ đổi mới nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ năm 1986, cùng với đó là thay đổi về căn bản phương thức sản xuất kinh doanh của các hộ kinh tế cá thể. Từ thành phần kinh tế không được khuyến khích phát triển, sản xuất kinh doanh chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp đã được dỡ bỏ cấm cản, cho phép tự do phát triển trong khuôn khổ pháp luật.
Nhìn lại khoảng thời gian cuối những năm 89, đầu những năm 90 của thế kỷ 20, khi đó đất nước chứng kiến sự bùng nổ của nền kinh tế thị trường, người người kinh doanh, nhà nhà kinh doanh. Như quy luật của nền kinh tế thị trường là cứ việc gì có lãi là nhảy vào làm nên đã xuất hiện rất nhiều “phong trào” kinh doanh như: Phong trào buôn xe máy, đồ gia dụng sê-cần-hen Nhật, phong trào buôn hàng hóa, hoa quả Trung Quốc, phong trào nuôi ốc bươu vàng, phong trào gửi tiền vào quỹ tín dụng… và không thể phủ nhận đời sống, kinh tế một bộ phận người dân được cải thiện một cách nhanh chóng. Nhưng kinh tế thị trường cũng bộc lộ ngay sự khắc nghiệt của nó nhất là đối với một nền kinh tế “chập chững” vào kinh doanh mà hậu quả của nó ảnh hưởng sâu, rộng tới kinh tế xã hội nhưng qua đó cũng rút ra được những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Một trong những bài học đó là thời kỳ toàn dân “sốt” nuôi, kinh doanh chó Nhật.
Trước thời kỳ đó, chó nuôi chủ yếu là chó ta, con chó vừa là người bạn của con người, vừa là con vật trông nhà và thịt chó cũng là thứ đặc sản thời thượng. Chó Nhật hay chó Bẹc-giê là những giống chó ngoại nhập chỉ được nuôi chủ yếu trong số ít gia đình khá giả, có điều kiện hơn đại bộ phận người dân còn lại. Chính vì vậy lúc đầu do cung và cầu đều ít nên chưa hình thành thị trường trao đổi mua bán loại chó ngoại nhập này.
Chó Nhật thực sự lên ngôi kể từ khi có mốt nuôi chó Nhật ở Trung Quốc, nhất là Bắc Kinh. Có lẽ do tiêu chuẩn của nhà giàu Trung Quốc là phải nuôi chó cảnh, cao cấp nhất là chó Nhật. Giá mỗi con chó Nhật được đánh giá là đẹp ở Trung Quốc lên tới hàng chục nghìn đô la, tương đương hàng trăm triệu đồng Việt Nam theo tỷ giá hồi đó.
Thời đó có thông tin chưa kiểm chứng cho rằng, do có giá cao và nhu cầu lớn nên các thương lái Trung Quốc gom hàng ở khắp nơi, sang tận một số thành phố lớn ở Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng… để tìm mua và sau này là thu gom qua một số đầu nậu người Việt. Từ đây cơn sốt nuôi chó Nhật thực sự bùng nổ, người người, nhà nhà đều nuôi chó Nhật.
Chó Nhật màu trắng được đánh giá là đẹp. Ảnh minh họa, nguồn Internet
Thời kỳ đỉnh cao của chó Nhật là vào khoảng năm 1991 đến năm 1993, giá một con chó Nhật theo tiêu chuẩn đẹp thời đó là khoảng 10 “vé” (1.000 đô la Mĩ) tính ra tiền Việt Nam là khoảng 10 triệu đồng, tức là hơn 3 cây vàng. Trong khi đó giá một căn nhà 30m2 mặt phố ở phố cổ Hà Nội như phố Hàng Bông là khoảng 30 cây vàng. Cá biệt có những con chó được “giao dịch” với giá tới 20 “vé” hoặc cao hơn nữa. Những con có giá cao thường phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn như lông trắng toàn thân, trán dô và có lông dài trùm kín mắt, tai to và cụp, mõm sáng màu, ngắn và hếch, chân vòng kiềng, đuôi xù. Những con có lông vá màu thì chỗ vá phải cân xứng.
Chó Nhật mỗi năm đẻ từ 1 đến 2 lứa, mỗi lứa từ 3 đến 5 con, thường thì chó con giống cái thì được bán với giá cao hơn chó đực. Tuy nhiên, chó đực lại có lợi thế là với những con mã đẹp, khỏe mạnh thì có thể được nuôi để gây giống. Ban đầu mỗi lần phối giống thành công chủ nuôi thường được trả công 2 “vé” nhưng về sau cách “giao dịch” có khác đi, sau mỗi lần phối giống chủ nuôi thường được trả công bằng cách chọn một con chó con bất kỳ trong đàn chó con được sinh ra. Có những gia đình nuôi hàng chục con chó đực chỉ để gây giống.

Đàn chó Nhật đáng giá cả một gia tài. Ảnh minh họa, nguồn Internet
Chính vì nuôi chó Nhật đem lại siêu lợi nhuận như vậy nên xuất hiện phong trào nhà nhà nuôi chó, người người nuôi chó. Mọi câu chuyện lúc “trà dư tửu hậu” đều xoay quanh chó Nhật. Đã có rất nhiều người, nhiều gia đình đầu tư tiền tích lũy, đi vay mượn người thân, quỹ tín dụng, bán cả tài sản, nhà cửa, đất đai để đầu tư kinh doanh với hy vọng làm giàu chỉ trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, thời kỳ đỉnh cao cũng nhanh chóng qua đi, tới cuối năm 1994 giá chó Nhật đã giảm xuống rất nhanh và đến đầu năm 1995 thì giá bán đã dừng lại ở mức cho, tặng hoặc được “giao dịch” theo mức giá của nhà hàng thịt chó. Lúc này người kinh doanh lâm vào cảnh “bỏ thì thương, vương thì tội”, có những gia đình nuôi 1 hay 2 con thì còn có thể tiếp tục nuôi, coi như con chó cảnh, chó giữ nhà nhưng có những hộ kinh doanh nuôi hàng vài chục con, nhất là những hộ đầu tư bằng tiền đi vay thì viễn cảnh vỡ nợ, phá sản không còn xa.
Lý giải cho sự thất bại này của thị trường, một số chuyên gia kinh tế cho rằng nó xuất phát từ sự ngây thơ, non nớt, ngộ nhận của của các hộ kinh doanh khi chập chững bước vào nền kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa. Người đầu tư kinh doanh không hề biết thị trường ở đâu, số lượng nhu cầu bao nhiêu, người đầu nậu, thương lái là ai. Người nuôi cứ nuôi, cứ cho đẻ rồi đợi khách hàng đến mua. Rất có thể giá cả được đẩy cao lên là do toàn những người đầu tư kinh doanh với nhau chứ không hề có khách hàng cuối cùng nào ở đây cả.
Cũng có chuyên gia kinh tế cho rằng nguyên nhân là do nguồn tiêu thụ sụt giảm bởi thú chơi chó Nhật hoàn toàn theo mốt, không mang tính ổn định và lâu dài, một khi đã hết mốt thì giá cả chó Nhật lại trở về với giá trị thực của chính nó.
Một nguyên nhân khác cũng có thể xảy ra, đó là do mặt trái của cơ chế thị trường. Trong cơn sốt giá chó Nhật, đã xuất hiện những hành vi trái đạo đức kinh doanh mang nặng tính lừa dối khách hàng. Một số đầu nậu người dùng thuốc nhuộm trắng những con chó Nhật có bộ lông không hoàn hảo, thậm chí nhuộm trắng cả những con chó ta lai Nhật vốn có bộ lông vàng, đen… để xuất bán cho khách hàng. Việc này nhanh chóng bị phát hiện bởi chỉ sau một thời gian ngắn bộ lông sẽ trở lại với màu sắc ban đầu. Điều này đã gây mất lòng tin từ phía khách hàng và khách hàng đã từ chối mua chó Nhật của tất cả các đầu nậu khác dẫn tới sự sụt giảm của toàn thị trường.
Đến nay vẫn chưa có ai tìm ra câu trả lời chính xác cho sự thất bại của phong trào kinh doanh chó Nhật thời kỳ đó, khi nhắc lại câu chuyện này mọi người đều cho rằng đó là một trong những vấp váp đầu tiên của những người kinh doanh khi chập chững bước vào kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa. Nhưng, suy cho cùng bài học rút ra từ câu chuyện này thật vô cùng sâu sắc, đó là muốn sản xuất kinh doanh phát triển bền vững thì không được đầu tư theo phong trào và quan trọng hơn nữa đó là phải tuyệt đối giữ chữ tín trong kinh doanh.
Lê Hùng
