Phát triển đô thị ở Việt Nam qua các thời kỳ và vấn đề đặt ra (kỳ 1)

Phát triển đô thị ở Việt Nam qua các thời kỳ và vấn đề đặt ra (kỳ 1)

1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của các đô thị ở Việt Nam

Sự xuất hiện và phát triển của các đô thị Việt Nam và hình thành các đô thị cổ:

Đô thị Việt Nam hình thành và phát triển từ khá lớn, trước hết là kinh đô thủ phủ của các quốc gia thời kỳ dựng nước qua các thời đại như Văn Lang, Cổ Loa; các thủ phủ của chính quyền đô hộ phương Bắc như Luy Lâu, Tống Bình, Đại La, rồi đến Hoa Lư trong thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập. So sánh với các nền văn minh khác trong khu vực thì đô thị Việt Nam phát triển chậm hơn rất nhiều. Chúng ta đã có thời gian dài tính từ năm 179 trước Công nguyên cho đến 905 thì đã có hàng loạt thủ phủ của các chính quyền đô hộ ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Đô thị đầu tiên mà chúng ta nghĩ đến đó là kinh đô Văn Lang, Cổ Loa; cùng với các đô thị mang tính chất thủ phủ của chính quyền đô hộ như Luy Lâu, Tống Bình, Đại La là hai giai đoạn của thời kỳ tiền Thăng Long (Lý Công Uẩn thấy rồng bay lên nên đặt tên là Thăng Long). Hoa Lư là kinh đô của triều Đinh – Tiền Lê.

Từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII, Thăng Long với nhiều tên gọi khác nhau luôn là đô thị lớn nhất cả nước, một trung tâm tiêu biểu về chính trị, kinh tế và văn hoá. Bên cạnh đó, một số đô thị là các đô thành, lị sở của các trấn, xứ. Trong số các đô thị cổ của chúng ta, Thăng Long là đô thị lớn nhất và là đô thị có những thăng trầm lịch sử với những lần đổi tên như Đông Quan, Đông Đô; thế kỷ XIX chỉ còn là tỉnh thành của Bắc thành tổng trấn – trong suốt thời gian thăng trầm thì Thăng Long là đô thị lớn nhất, nhiều thành tựu nhất. Ngoài ra cũng có các đô thị là đô thành của các trấn, xứ những hiểu đơn giản nhất đó chính là trung tâm của các địa phương, chính quyền đầu não của các địa phương.

Nhìn chung, đô thị Việt Nam thời cổ đại có số lượng ít, thường là trung tâm của nhà nước sơ khai hay trị sở của chính quyền đô hộ phương Bắc.

Đô thị thời phong kiến:

– Thời phong kiến, đô thị Việt Nam có số lượng ít, quy mô nhỏ bé, chủ yếu mang chức năng quân sự và chính trị, tập trung chủ yếu là thợ thủ công và người buôn bán nhỏ. Các hoạt động buôn bán xã hội khá phát triển, tập trung ở một số địa điểm thuận lợi về giao thông thuỷ bộ, là trị sở của chính quyền. Hoạt động kinh tế rất nhỏ bé, chỉ để phục vụ cho nhu cầu của quan lại, binh lính triều đình và hầu như không có sự kết nối với thị trường bên ngoài.

Thế kỷ XVI chứng kiến sự phát triển mạnh của các đô thị như Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà – Bao Vinh, Hội An, Nước Mặn, Gia Định, Cù lao Phố, Mỹ tho đại phố… Sau phát kiến địa lý, giao thương và thương nghiệp được mở rộng rất mạnh mẽ. Các công ty Đông Ấn của Pháp và Hà Lan hoạt động mạnh ở khu vực châu Á cho nên châu Á trở thành một thị trường mới, nhiều tiềm năng và hứa hẹn một nguồn lợi rất lớn của các nước tư bản. Hoạt động sôi động ngoại thương trong quan hệ quốc tế phát triển rất mạnh tác động đến sự phát triển của hàng loạt các đô thị. Cũng như sự tác động của quan hệ quốc tế này mà nền sản xuất hàng hoá trong nước được đẩy mạnh và quan hệ tiền tệ có phát triển mạnh hơn so với trước. Có điều khá lạ là thế kỷ XVII chứng kiến sự suy yếu của nhà nước phong kiến Việt Nam, sự tranh gianh quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến trong nước thì quan hệ hàng hoá, giao thương hàng hoá trong nước lại rất phát triển ở chính các nhân tố cảng thị dẫn đến sự hưng thịnh của các đô thị.

Đầu thế kỷ XIX thì kinh tế thương mại sa sút, thành thị phát triển chậm và thương cảng suy tàn dần, chỉ còn 3 đô thị ở ba miền của Việt Nam là Hà Nội, Huế, Gia Định.

Đô thị thời Pháp đô hộ:

Trong công cuộc xâm lược Việt Nam, Pháp tiến hành tìm hiểu và quy hoạch những khu vực đầu tư và phát triển các ngành nghề khai thác và chế biến nhằm phục vụ cho công cuộc bóc lột của chúng. Các đô thị nổi bật trong thời kỳ này như Hải Phòng, Nam Định, Vinh – Bến Thuỷ; những đô thị ở phía bắc có nhiều nguồn lợi về khoán sản như than Quảng Ninh, thiếc Bắc Kạn… được chủ trương khai thác rộng trên toàn vùng, vận chuyển các sản vật khai thác được.

Vào nửa đầu thế kỉ XX một loạt các đô thị ra đời làm cơ sở cho mạng lưới đô thị nước ta sau này: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Uông Bí, Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn – Chợ Lớn, Mỹ Tho, Biên Hòa, Cần Thơ,…

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, về cơ bản đô thị hóa chững lại và thụt lùi. Trong thời kỳ đất nước bị tạm thời chia cắt (1954 – 1975), ĐTH có nhiều nét khác nhau giữa 2 miền:

– Miền Bắc: nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Thời kỳ công nghiệp hóa XHCN vào đầu thập niên 1960 đã thúc đẩy quá trình cải tạo và nâng cấp các đô thị cũ như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh; phát triển các đô thị mới như Thái Nguyên, Việt Trì,… Tuy nhiên, thành tựu của công nghiệp hóa và đô thị hóa đã bị phá hoại nặng nề bởi chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

– Miền Nam: Đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nhưng không phải do sự phát triển kinh tế, mà trong hoàn cảnh đặc biệt là chiến tranh, người dân dồn vào đô thị để lánh nạn và cũng do chính sách giành dân của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ. Kết quả là đến năm 1974, khoảng 43% dân số miền Nam sống trong khu vực đô thị. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ở miền Nam dân cư đô thị giảm thấp do quá trình hồi hương dân từ thành phố về nông thôn cũng như động viên dân cư – lao động đi phát triển các vùng kinh tế mới; trong khi đó dân cư đô thị ở miền Bắc tăng không đáng kể. Trong một thời gian dài tỷ lệ dân số thành thị không tăng, thậm chí còn giảm. Cho đến năm 1995, tỷ lệ dân số thành thị cả nước mới là 20,7%, chưa bằng mức của năm 1975 (21,5%). Với chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, coi đô thị hóa như là một động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân và các vùng kinh tế, đồng thời dưới tác động của quá trình mở cửa, hội nhập và toàn cầu hóa, từ giữa thập kỉ 1990, tốc độ đô thị hóa dần khởi sắc.

Đô thị thời kỳ đất nước đổi mới:

Từ năm 1986 đô thị Việt Nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ sau khi Nhà nước Việt Nam chủ trương đổi mới chính sách kinh tế – xã hội, từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, chủ động đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, hình thành những vùng kinh tế trọng điểm. Chủ trương này đã có những tác động tích cực. Kinh tế, xã hội Việt Nam đạt được những kết quả phát triển đáng kể, bộ mặt đô thị Việt Nam từ đó có những bước chuyển biến quan trọng.

Hệ thống đô thị không ngừng phát triển, mở rộng về quy mô và tăng cường về chất lượng. Năm 1990 cả nước có 500 đô thị, đến năm 2000 tăng lên 649 đô thị, đến cuối năm 2012 tăng lên 779 đô thị (trong đó 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 59 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và 620 thị trấn).

Từ năm 1975 đến nay quá trình đô thị hóa chuyển biến khá tích cực, tuy nhiên cơ sở hạ tầng các đô thị vẫn còn ở mức thấp so với thế giới.

Tỉ lệ dân thành thị tăng: năm 1990: 19,5%; năm 2000: 24,1%; năm 2005: 26,9%, năm 2010: 30,5%; năm 2015: 33,5%; năm 2020: 36,8%; và hiện nay năm 2023: 38,1%.

Hệ thống đô thị không ngừng phát triển, mở rộng về quy mô và tăng cường chất lượng. Năm 1990 cả nước 500 đô thị, đến năm 2000 tăng lên 649 đô thị, năm 2010 tăng lên 772 đô thị, năm 2020 tăng lên 862 đô thị; và năm 2023 tăng lên 902 đô thị.

Phát triển đô thị ở Việt Nam qua các thời kỳ và vấn đề đặt ra (kỳ 1) Hình 1: Tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2024

Năm 2023, nước ta có tổng số 902 đô thị, tỉ lệ đô thị hóa đạt 42,6%, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt, 22 đô thị loại I, 36 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 94 đô thị loại IV, 703 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hóa cả nước ước đạt khoảng 42,6%. Các địa phương có tỉ lệ đô thị hóa cao gồm có: Đà Nẵng (87,45%); Bình Dương (84,32%); TP. Hồ Chí Minh (77,77%); Cần Thơ (70,50%); Quảng Ninh (67,50%); Bà Rịa – Vũng Tàu (58,48%); Thừa Thiên Huế (52,81%); Bắc Ninh (51,32%); Hà Nội (49,05%); Hải Phòng (45,58%).

Phát triển đô thị ở Việt Nam qua các thời kỳ và vấn đề đặt ra (kỳ 1) Hình 2: Tỷ lệ đô thị hóa 63 tỉnh, thành phố năm 2023

(Còn tiếp)