Thực trạng phát triển đô thị giai đoạn 2011 – 2020
1. Những kết quả đạt được
Giai đoạn 2011 – 2020, Việt Nam đã chú trọng phát triển các đô thị theo hướng đáp ứng những yêu cầu, xu thế thời đại về nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và đô thị thông minh. Điều này được thể hiện trong các chính sách về phát triển đô thị(1). Thực tiễn cho thấy, tốc độ đô thị hóa của Việt Nam từ năm 2011 dường như chậm hơn, nhưng chất lượng đô thị hóa ngày càng được nâng cao. Theo Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa cả nước tăng từ 30,5% năm 2010 lên đến 38,4% năm 2019. Năm 1999, Việt Nam có 629 đô thị và đến tháng 12-2020 có 862 đô thị, bao gồm 2 đô thị đặc biệt, 23 đô thị loại I, 31 đô thị loại II, 48 đô thị loại III, 90 đô thị loại IV và 668 đô thị loại V. Theo tổng điều tra dân số năm 2019 của Tổng cục Thống kê, dân số thành thị là hơn 33,1 triệu người, chiếm 34,4% tổng dân số cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân khu vực thành thị giai đoạn 2009 – 2019 là 2,64%/năm, gấp hơn hai lần tỷ lệ tăng dân số của cả nước và gấp sáu lần tỷ lệ tăng dân số khu vực nông thôn cùng giai đoạn. Tốc độ tăng dân số thành thị bình quân hằng năm giai đoạn 2009 - 2019 thấp hơn tốc độ tăng dân số thành thị bình quân giai đoạn 1999 – 2009 (3,4%/năm). Yếu tố di cư góp phần làm dân số khu vực thành thị tăng thêm 1,2 triệu người, chiếm 3,5% dân số thành thị; sự “chuyển mình” từ xã thành phường/thị trấn của nhiều địa phương trong cả nước góp phần chuyển 4,1 triệu người đang là cư dân nông thôn thành cư dân thành thị, tương đương 12,3% dân số thành thị của cả nước năm 2019.
Có thể thấy, diện mạo đô thị cả nước thay đổi nhanh chóng trong 10 năm trở lại đây. Việc xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch chung giúp các đô thị có định hướng phát triển tốt hơn, công tác quản lý kiến trúc đô thị được quan tâm; chương trình phát triển đô thị được triển khai tại một số đô thị lớn, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,… góp phần làm cho các đô thị có diện mạo khang trang, sạch sẽ hơn, hệ thống hạ tầng đầy đủ, tiện nghi hơn. Sự hình thành hàng trăm khu đô thị mới với thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện ích đã góp phần tạo điểm nhấn về cảnh quan kiến trúc cho các đô thị, tạo các nơi ở chất lượng cao cho cộng đồng dân cư…
Các dịch vụ đô thị được thực hiện ngày một tốt hơn. Dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng ngày càng được nâng cao chất lượng, phát triển cả về hạ tầng và loại hình vận tải(2), hàng loạt xe buýt của các đô thị được đầu tư mới với việc sử dụng nhiên liệu sạch CNG góp phần giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện tăng trưởng xanh và tiện nghi trên xe đẹp, hiện đại, chất lượng phục vụ được nâng cao. Việc cấp nước tại các đô thị cơ bản được cải thiện cả về số lượng và chất lượng(3). Nhiều dự án thoát nước đô thị được thực hiện, chủ yếu bằng nguồn vốn vay ODA, như tại Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vinh,… Dịch vụ thu gom, xử lý chất thải rắn ngày càng được đẩy mạnh(4).
Tăng trưởng kinh tế khu vực đô thị trung bình đạt 12% – 15%/năm, cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với mặt bằng chung của cả nước. Các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn là nơi thu hút các doanh nhân, quy tụ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh của cả nước và là nguồn đóng góp ngân sách lớn nhất nước. Kinh tế đô thị góp khoảng 70% GDP cả nước. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội chiếm 42,4% tổng nộp ngân sách cả nước năm 2020.

Khu vực đô thị đang tạo động lực phát triển cho khu vực nông thôn thông qua nhiều hình thức như: Hằng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, thu hút, quy tụ lao động các địa phương ở mọi trình độ; là nơi tiêu thụ chủ yếu hàng nông sản và các sản phẩm địa phương; cung cấp toàn bộ các dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao không chỉ phục vụ cư dân đô thị, mà còn phục vụ khu vực nông thôn. Ngoài ra, đô thị còn có đóng góp lớn trong thực hiện các hoạt động an sinh xã hội, mà tiêu biểu là giảm nghèo quốc gia và có vai trò quan trọng trong việc liên kết với các vùng nông thôn để tạo thế trận an ninh – quốc phòng.

