.jpg?w=900)
MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH.
Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái. MCB GTKS xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ.
Theo Bộ Y tế, nước ta đang đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nghiêm trọng. Nếu như năm 2006 tỉ lệ giới tính khi sinh nam/nữ là 109/100 thì năm 2017 là 112-113/100, điều đó cho thấy tỉ lệ mất cân bằng tăng rất nhanh, trở thành vấn đề xã hội đáng báo động.
Tình trạng mất cân bằng GTKS đã được cảnh báo nhưng thực tế chúng ta lại chưa có các biện pháp hiệu quả để giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Đáng nói là 50% số tỉnh, thành phố trong cả nước có tỷ số mất cân bằng GTKS năm sau cao hơn năm trước. Năm 2014, có 15 trong số 63 tỉnh, thành phố có tỷ số GTKS là 115 trẻ nam/100 trẻ nữ; năm 2016, tăng lên 22 trong số 63 tỉnh, thành phố. Xu hướng này diễn ra không giống nhau tại các vùng trên cả nước.tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn với công tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính sách.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo số liệu báo cáo thống kê chuyên ngành từ năm 2010 đến 2013 tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) ở mức hợp lý từ 106 – 107. năm 2014, tỷ số này đang có xu hướng gia tăng 108 trẻ trai/100 trẻ gái. Và hiện nay tỉ số này đang là 112,9 trẻ trai/100 trẻ gái ( 6/2018), riêng quận Gò vấp thì tỉ số này là 127 bé trai/100 bé gái đứng đầu danh sách trong 24 quận huyện cùa thành phố.
Với tỉ số giới tính khi sinh như hiện nay, trong vòng 20 năm nữa, cơ cấu dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng bởi thừa nam giới và nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Nói cách khác, MCBGTKS có tác động không nhỏ đến sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc gia. Do đó, việc giảm sự MCBGTKS đang trở nên cấp thiết. Để thực hiện có hiệu quả vấn đề này ở nước ta hiện nay, cần thiết phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra MCBGTKS.
Theo các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu về MCBGTKS và thực tế ở nước ta, nguyên nhân dẫn tới MCBGTKS có thể được chia thành 03 nhóm nguyên nhân: nhóm nguyên nhân cơ bản, nhóm nguyên nhân trực tiếp và nhóm nguyên nhân phụ trợ. Việc phân nhóm các nguyên nhân như trên dựa vào tính chất và mức độ tác động của chúng đến MCBGTKS.Sự phân chia này mang tính độc lập tương đối.Bởi lẽ, một nguyên nhân có thể được xếp vào nhiều nhóm mà vẫn hợp lý.
- Nhóm nguyên nhân cơ bản
Cùng với một số nước châu Á, chính bởi tư tưởng Nho giáo truyền thống nối dõi tông đường, có người thờ cúng… đã làm tâm lý ưa thích con trai của người dân Việt Nam trở nên mãnh liệt. Tâm lý này được thể hiện rất rõ trong quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” – có con trai mới được xem là có con, không có con trai là tuyệt tự. Con sinh ra phải mang họ bố (ngoại trừ chế độ mẫu hệ). Nhiều việc lớn trong gia đình đều được hỏi ý kiến con trai và con trai là người có quyền tham gia, quyết định nhất là đối với những việc trọng đại, kể cả đó không phải là con trai trưởng, kinh tế không khá giả, trình độ hiểu biết kém hơn người con gái trong gia đình… Đối với những gia đình có nghề gia truyền, đặc biệt là các nghề bí truyền, việc truyền nghề hầu như chỉ thuộc về con trai – người nối dõi. Quan niệm con trai – nơi nương tựa của cha mẹ lúc về già và “con gái là con người ta”, “con rể là khách”. Khi cha mẹ mất, dù là con gái đầu lòng cũng chỉ được đứng ở sau con trai; chỉ có cháu trai mới được bê bát hương ông bà, con trai mới được ra vào nơi thừa tự, góp giỗ tổ tiên; ngày giỗ cha mẹ, con gái phải góp giỗ cho anh/em trai và tổ chức giỗ tại nhà anh/em trai…Mặc dù những tập tục, quan niệm này cho đến nay đã được giảm nhiều, không còn nặng nề như trước đây, song đã cho thấy một thực tế là: tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng, dòng họ bởi sự tồn tại hàng ngàn năm của nó. Bên cạnh đó, nguyên nhân “nghề của gia đình cần nhân lực lao động là nam giới” để làm kinh tế tốt hơn cũng là yếu tố quan trọng của lòng mong muốn có con trai. Điều này được thể hiện rất rõ đối với vùng biển, mong có con trai để theo nghiệp biển (đi đánh bắt xa bờ, làm kinh tế từ nghề biển, đáp ứng được đòi hỏi về sức lao động của nghề biển), hay ở nghề khai khoáng, lâm nghiệp.
Theo một số nhà nghiên cứu, trong vòng đời của con người, sự bất lực hoàn toàn được thể hiện khi còn nhỏ và lúc tuổi già; chỉ ở tuổi trưởng thành thì năng lực con người mới dồi dào. Và do đó, con người không chỉ kiếm sống cho bản thân mình mà còn phải “có trách nhiệm” hỗ trợ người khác khi họ “yếu thế” để rồi sẽ nhận lại sự hỗ trợ đó ở họ khi mình yếu đuối, bất lực. Nói cách khác, đó là sự hợp tác giữa các thế hệ trong mối quan hệ gia đình để “kẻ yếu và người khỏe đảm bảo an ninh cho nhau ở các giai đoạn khác nhau trong chu trình tăng trưởng và suy thoái của họ”Có thể nói, đó cũng chính là quan niệm của người Việt Nam được thể hiện qua ngạn ngữ” Trẻ cậy cha, già cậy con”. Hiện nay, quan niệm này vẫn có “sức sống bền bỉ” khi con đường xây dựng thể chế phúc lợi ngoài gia đình (lương và trợ cấp hưu trí, hệ thống nhà băng gửi tiền tiết kiệm, nhà dưỡng lão, khả năng vay tiền ngân hàng…) vừa chậm chạp, vừa không đủ hiệu quả và phủ khắp, nhất là đối với gia đình ở nông thôn, người sống không có lương hưu, làm việc trong khu vực phi chính thức. Thực tế đã cho thấy, hiện nay, phần lớn các thế hệ già và thế hệ trẻ đều dựa vào gia đình và với quan niệm nho giáo, cha mẹ phải dựa vào con trai
Như vậy, nhóm nguyên nhân cơ bản chính là điều kiện “Cần” – điều kiện tiên quyết để tỷ số giới tính khi sinh tăng lên – tức là MCBGTKS tăng, vì nếu không có nguyên nhân này thì chắc chắn MCBGTKS không tăng lên như hiện nay.
2. Nhóm nguyên nhân trực tiếp
Có thể nói, MCBGTKS ở Việt Nam hiện nay tăng nhanh một phần quan trọng là do người dân sử dụng những dịch vụ lựa chọn giới tính khi sinh hiện đại để can thiệp và chẩn đoán. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến MCBGTKS ở nước ta hiện nay.Vì sao lại khẳng định như vậy?
Như đã trình bày ở phần trên, tâm lý mong muốn có con trai rất mãnh liệt do ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo là nguyên nhân cơ bản dẫn đến MCBGTKS ở nước ta. Song, cần phải nhìn nhận và đánh giá khách quan rằng: trước đây, mong muốn có con trai chỉ được thực hiện chủ yếu bằng cách đẻ nhiều con cho đến khi có được con trai mới thôi hoặc lấy thêm vợ để người vợ đó sinh được con trai. “Quy trình” này được thực hiện đòi hỏi phải có khoảng thời gian nhất định, và vì thế, tỷ số giới tính khi sinh ít khi bị mất cân bằng, có chăng là sự chênh lệch không nhiều giữa trẻ gái sinh ra còn sống nhiều hơn so với trẻ trai sinh ra còn sống ở ngưỡng tỉ số giới tính khi sinh trung bình (ngưỡng cho phép). Tuy nhiên, từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, khi các dịch vụ sinh sản bao gồm cả các dịch vụ siêu âm được sử dụng như một phần nội dung chăm sóc trước sinh. Các dịch vụ siêu âm thai nhi đã được sử dụng nhằm mục đích xác định giới tính và đã trở thành rất phổ biến và giá cả rất hợp lý đối với phụ nữ.
Hiện nay, nhiều người vừa muốn sinh ít con lại vừa muốn có con trai nên họ đã lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện mong muốn này. Áp dụng từ lúc bắt đầu chuẩn bị có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…); trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y…); khi đã có thai (sử dụng siêu âm, chọc hút dịch ối…) để chẩn đoán giới tính, khi thai là con trai thì họ giữ lại, còn nếu thai là con gái thì họ bỏ đi…Qua các kết quả nghiên cứu, khảo sát trong những năm gần đây do các cơ quan chức năng, nhà khoa học thực hiện, tỉ số giới tính khi sinh thường cao ở nhiều tỉnh có điều kiện để thực hiện những yếu tố nói trên.
Nếu như tâm lý mong muốn có con trai là điều kiện “cần” thì việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong y học lại là điều kiện “đủ” dẫn đến thực trạng MCBGTKS ở nước ta hiện nay. Nói cách khác, chỉ khi có sự kết hợp hai điều kiện này mới xảy ra tình trạng MCBGTKS cao. Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, các dịch vụ phá thai là hợp pháp và dịch vụ này là một phần nội dung của chương trình sức khỏe sinh sản được tiếp cận rộng rãi, có chi phí thấp nên hầu hết mọi người đều có thể chi trả được cũng là nhân tố “hỗ trợ” khá lớn để kết thúc việc lựa chọn giới tính thai nhi trước khi sinh.
3. Nhóm nguyên nhân phụ trợ
Với nhóm nguyên nhân này, có thể đưa ra một số nguyên nhân cụ thể sau đây:
– Do nhu cầu phát triển kinh tế gia đình
Ở một số vùng, một số ngành nghề, công việc nặng nhọc đòi hỏi sức lao động cơ bắp của người con trai như: đi biển, đánh bắt xa bờ, khai thác khoáng sản… Bên cạnh đó, cấu tạo cơ thể vÒ mÆt sinh häc của con trai đáp ứng được những khắc nghiệt mà nghề nghiệp đòi hỏi. Vì vậy, đối với những người hoạt động trong các ngành nghề đó, con trai là trụ cột kinh tế của cả gia đình. Do vậy, “nghề cần nhân lực là con trai” cũng là một nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS.
– Do chính sách an sinh xã hội chưa đảm bảo
Hiện nay, 70% dân số nước ta sống ở nông thôn, hầu hết không có lương hưu khi về già. Họ cần sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cái và trách nhiệm này thuộc về con trai theo quan niệm của người dân Việt Nam.
Trong một số nghiên cứu xã hội học về người già ở Việt Nam đã xác nhận ba nguồn sống chính của người già: một, tự giúp (lao động bản thân hoặc tài sản đã tích lũy từ trước); hai, sự giúp đỡ của con cái; ba, sự chu cấp của nhà nước. Đối với người già ở nông thôn, con cái đóng vai trò quan trọng trong chu cấp cho người già, bằng sự hỗ trợ tài chính, đóng góp công sức. Người chăm sóc chính (chủ yếu) khi người già ốm đau chỉ là vợ/chồng và con cái của họ. Vì vậy, những người không có con trai sẽ cảm thấy lo lắng và rất không yên tâm khi chưa có con trai. Hơn nữa, chế độ, chính sách trợ giúp xã hội, bảo trợ xã hội cho người hết tuổi lao động, người cao tuổi còn nhiều bất cập… cũng làm tăng mối lo của đối tượng này lúc về già. Đây là một thực tế đang được các cơ quan chức năng quan tâm và tìm cách giải quyết, nhất là nước ta chuyển sang thời kỳ dân số già với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Vì vậy, ít đề cập đến phúc lợi trong chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi, nhất là đối với người không có con trai cũng là nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS.
– Do chính sách ưu tiên đối với nữ giới chưa được thỏa đáng mà một trong những nguyên nhân cụ thể của nó là do thiếu lồng ghép nội dung MCBGTKS vào các chính sách có liên quan đến bình đẳng giới cũng là nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS.
Thực tế hiện nay, mặc dù có pháp luật, chính sách đề cập đến MCBGTKS, song việc triển khai và thực thi trong từng lĩnh vực còn nhiều bất cập, hạn chế cả về nhận thức, năng lực của cơ quan, cán bộ chuyên môn cũng như về cơ chế thực hiện, sự phối kết hợp giữa các ban, ngành, sự đồng thuận của cán bộ LĐQL và người dân…
- Do “tâm lý đám đông” và định kiến đối với người không có con trai
Ngạn ngữ Việt Nam có câu “con gà tức nhau tiếng gáy” – câu ngạn ngữ này rất đúng với nguyên nhân từ “tâm lý đám đông” gây ra MCBGTKS. Thực tế cho thấy, không ít người muốn sinh con trai và phải sinh bằng được con trai do tác động của nguyên nhân này bởi chính sự kích động của dòng họ, bạn bè, hàng xóm cũng như sự dồn ép của gia đình, dòng tộc. Đã có không ít những bi kịch mà hậu quả của nó trút xuống đầu người phụ nữ không sinh được con trai như: phải để chồng đi lấy vợ khác, chịu sự hắt hủi, bỏ mặc… của chồng, gia đình nhà chồng và những trường hợp như vậy không phải là hiếm, vẫn còn tồn tại, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có tập tục lạc hậu của chế độ phụ hệ .
Như vậy, do sợ thua kém người khác vì không có con trai, bị sức ép của gia đình, dòng họ và do vị thế của người phụ nữ bị đe dọa vì không có con trai cũng tác động đến MCBGTKS .
– Do nhận thức chưa đúng về hậu quả của MCBGTKS
Theo nghiên cứu của Bộ Y tế (2010), tình trạng tỉ số giới tính khi sinh chênh lệch cao hiện nay chủ yếu diễn ra ở nhóm gia đình có điều kiện kinh tế xã hội cao. Trong khi ở nhóm nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số), tỉ số giới tính khi sinh ở mức bình thường là 105,2 trẻ em trai/100 trẻ em gái; còn ở nhóm giầu nhất, tỉ lệ này lên tới 111,7 trẻ em trai/100 trẻ em gái. Đặc biệt ở lần sinh thứ 3, mất cân bằng giới tính ở nhóm giầu nhất lên tới 132,9 trẻ em trai/100 trẻ em gái. Đây là một minh chứng rõ ràng rằng, trong lần sinh “vượt kế hoạch” này, nhiều người đã cố gắng để có được con trai. Lo ngại hơn, việc lựa chọn sinh con trai ở nhà giầu, trình độ văn hóa cao đang có dấu hiệu lan dần sang nhóm nghèo theo quy luật lây truyền giá trị xã hội.
Nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng MCBGTKS nặng nề ở nhóm dân số có điều kiện kinh tế khá giả do:
thứ nhất, về mặt kinh tế, nhóm dân số này có điều kiện hơn khi tiếp cận với các phương pháp lựa chọn giới tính như: áp dụng chế độ ăn uống, siêu âm ngày rụng trứng, thụ tinh nhân tạo, lọc rửa tinh trùng, siêu âm chẩn đoán giới tính thai từ sớm.
Thứ hai, họ có áp lực nối dõi tông đường về mặt tài sản. Mặt khác, nhóm dân số có điều kiện kinh tế khá giả thì phần lớn có trình độ học vấn cao hơn hoặc có hiểu biết nhiều hơn trong nhiều lĩnh vực, thường sinh ít con và do đó, trước mỗi quyết định sinh đẻ, họ sẽ thường tìm cách lựa chọn để đẻ được con trai. Đó chính là nhận thức chưa đầy đủ của người dân thuộc nhóm kinh tế gia đình khá giả về MCBGTKS.
Một số cán bộ y tế chưa có ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của MCBGTKS . Từ đó ảnh hưởng đến cơ cấu dân số và sự phát triển bền vững của gia đình, của xã hội.
Từ sự quản lý điều hành của cơ quan chức năng
Truyền thông đại chúng là phương tiện tuyên truyền được sử dụng với tần suất lớn trong phạm vi rộng cả về khoảng cách địa lý và đối tượng tiếp nhận trong cộng đồng khi thực hiện việc phổ biến các thông tin mang tính xã hội, trong đó có truyền thông về MCBGTKS.Thực tế cho thấy, tính chưa toàn diện trong truyền thông về MCBGTKS là ở chỗ: còn nặng về sự thông báo tình hình, số liệu, còn coi nhẹ việc phân tích thấu đáo, đảm bảo tính khoa học…. Nói cách khác, đây là nguyên nhân thuộc về trách nhiệm của cơ quan, cán bộ làm công tác truyền thông về MCBGTKS.
Bên cạnh đó, vai trò quản lý của cơ quan chức năng (Bộ Y tế, Tổng cục Dân số – KHHGĐ) cũng là yếu tố có liên quan đến tình trạng MCBGTKS. Đó là: Thiếu các biện pháp để giám sát, các chế tài để xử lý vi phạm về lựa chọn giới tính thai nhi và việc kiểm soát y tế tư nhân về dịch vụ xác định giới tính thai nhi còn yếu
Trên thự tế, việc nạo hút thai được coi là hợp pháp. Bên cạnh đó, việc “mở rộng cửa” cho tư nhân làm dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, siêu âm thai, đã làm cho dịch vụ này hiện nay mọc lên như nấm sau mưa. Hơn nữa, việc thông báo bằng lời giới tính thai nhi ngày càng trở nên “linh hoạt”, “tế nhị”, “giàu hình ảnh” và dễ hiểu như: nếu là thai nhi là con trai thì: lại “quả ớt”, hoàng tử đắt giá; có người chống gậy, khỏi lo nhé…; nếu thai nhi là con gái thì: thị mẹt đấy; công chúa rồi; vịt trời bay xa, cố thêm thằng cu cho có nếp, có tẻ… Tất cả những điều đó gây khó khăn, là trở ngại cho cơ quan chức năng giám sát, quản lý việc thông báo, lựa chọn giới tính thai nhi sớm. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt hành vi này thiếu biện pháp phù hợp, chưa đủ sức răn đe người vi phạm…
HỆ LỤY CỦA MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH:
Tình trạng thiếu nữ giới để kết hôn sẽ dẫn đến xu hướng nam giới muộn hoặc không kết hôn, đặc biệt đối với những trường hợp nghèo khó, trình độ học vấn thấp; kéo theo độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam giới tăng lên. Vì thế, tỷ trọng dân số chưa kết hôn cũng sẽ tăng lên. Ngay cả tỷ lệ người già neo đơn, không nơi nương tựa, cần sự quan tâm chăm sóc của cộng đồng trong tương lai cũng sẽ tăng lên
Mất cân bằng GTKS tại Việt Nam sẽ có những tác động tiêu cực đến các chỉ số nhân khẩu học của dân số, đến hôn nhân và gia đình, đến trật tự trị an xã hội, ngay cả một số ngành nghề vốn thích hợp với phụ nữ sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu lao động như giáo viên mầm non, tiểu học, y tá, may mặc,… Vấn đề đặt ra hiện nay là Chính phủ, các tổ chức xã hội và mỗi cá nhân phải cùng nhau thực hiện các giải pháp nhằm khống chế mức tăng của GTKS.
Tình trạng thiếu nữ giới để kết hôn sẽ làm nam giới buộc phải tính đến việc kết hôn với người nước ngoài. Một thực tế đang diễn ra là có hàng trăm ngàn cô gái Việt Nam đang di chuyển đến các nước – nơi có tình trạng mất cân bằng GTKS trước chúng ta hàng chục năm là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan để làm dâu. Chỉ tính riêng từ năm 1998 -2008 đã có 251.492 cô gái Việt Nam làm dâu tại Hàn Quốc.
Khi kết hôn với người nước ngoài mà không có tình yêu, không có sự tìm hiểu nhau kỹ càng thì hôn nhân sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức như sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, thói quen sinh hoạt, quan niệm… Những điều đó sẽ dẫn đến sự xung đột và đe doạ đến hạnh phúc gia đình, làm gia tăng các vụ bạo hành giới (thể chất, tinh thần, tình dục) mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ; tăng cao nguy cơ số vụ ly hôn.
Hậu quả của bạo lực giới sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ (thể chất, tinh thần) của người phụ nữ, đặc biệt là sức khoẻ sinh sản; ảnh hưởng đến đời sống kinh tế gia đình và cả những dư chấn tâm lý tác động đến con cái. Thực tiễn về các vụ cô dâu Việt Nam bị bạo hành ở nước ngoài làm đau lòng xã hội đã phần nào chứng minh điều đó.
Nam giới muộn hoặc không kết hôn được sẽ có thể phải đối mặt với các rắc rối về tâm lý, tinh thần, tăng nguy cơ bệnh tật khi mà các nhu cầu tâm lý, tình cảm, sinh lý không được đáp ứng. Điều đó sẽ làm gia tăng các tệ nạn xã hội, đặc biệt là mại dâm nữ, nam; các nguy cơ về lây nhiễm HIV/AIDS; tội phạm, tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và ngay cả nạn nhân là nam giới vì thế cũng gia tăng.
Vì vậy, việc mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ là nguy cơ cho sự phát triển bền vững của đất nước nếu như để xảy ra sự bùng nổ gia tăng không kiểm soát về dân số cùng với sự mất cân bằng giới tính sẽ đe dọa sự bất ổn lâu dài cho xã hội
Nhằm giảm thiểu những hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh, đòi hỏi cần sự vào cuộc và chung tay của cả cộng đồng,làm giảm tình trạng mất cân bằng TSGTKS nhất là các cấp, các ngành liên quan trong việc tích cực triển khai đồng bộ, hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, thái độ và chuyển đổi hành vi của người dân
